Bình ổn giá vật liệu xây dựng: Yêu cầu cấp bách từ thực tiễn đến hoàn thiện thể chế

Bình ổn giá vật liệu xây dựng: Yêu cầu cấp bách từ thực tiễn đến hoàn thiện thể chế
Ảnh minh họa.

Trước áp lực giá vật liệu xây dựng biến động mạnh, Bộ Xây dựng đã ban hành Văn bản số 4385/BXD-KTQLXD ngày 23/3/2026 yêu cầu tăng cường quản lý, bình ổn giá và bảo đảm tiến độ các dự án đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai cho thấy, bài toán không chỉ nằm ở điều hành ngắn hạn mà còn đòi hỏi những giải pháp mang tính căn cơ về thể chế, đặc biệt trong quản lý chi phí và cơ chế hợp đồng xây dựng.

Giá vật liệu biến động, áp lực lan tới các dự án trọng điểm

Theo Văn bản số 4385/BXD-KTQLXD, Bộ Xây dựng nhận định biến động địa chính trị quốc tế đang tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng năng lượng, kéo theo giá xăng dầu tăng và tạo áp lực lên giá vật liệu xây dựng như cát, đá, xi măng, thép….

Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và triển khai nhiều công trình hạ tầng quy mô lớn, sự biến động của giá vật liệu không chỉ làm gia tăng chi phí đầu tư mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng tới tiến độ các dự án trọng điểm.

Thực tế từ bảng công bố giá vật liệu xây dựng quý I/2026 của Hà Nội cho thấy mức độ chênh lệch đáng kể giữa các khu vực. Giá cát xây dao động từ khoảng hơn 230.000 đến 450.000 đồng/m³, trong khi cát vàng có thể lên tới khoảng 700.000 đồng/m³.

Tương tự, giá đá, xi măng và thép cũng có sự dao động lớn, phản ánh thị trường vật liệu xây dựng đang chịu tác động mạnh từ nhiều yếu tố, trong đó có chi phí vận chuyển và nguồn cung.

Bộ Xây dựng cảnh báo, nếu không có giải pháp kịp thời, biến động giá có thể gây đội vốn, phát sinh vướng mắc trong thực hiện hợp đồng xây dựng, ảnh hưởng đến mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công và tăng trưởng kinh tế.

Khoảng cách giữa chính sách và thực tế

Một trong những nội dung trọng tâm của văn bản là yêu cầu các địa phương phải kịp thời cập nhật, công bố giá vật liệu xây dựng sát với mặt bằng giá thị trường, đặc biệt đối với những loại vật liệu có biến động bất thường.

Theo đó, việc công bố giá cần thực hiện theo tháng hoặc sớm hơn khi cần thiết nhằm phục vụ công tác lập và điều chỉnh dự toán, quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Tuy nhiên, từ thực tế triển khai, việc “bám sát thị trường” không đơn giản. Giá vật liệu có thể biến động theo ngày, trong khi quy trình công bố giá vẫn mang tính định kỳ và chịu ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính.

Khoảng cách giữa giá công bố và giá giao dịch thực tế vì vậy vẫn tồn tại, đặc biệt tại các khu vực có biến động nguồn cung hoặc chi phí vận chuyển lớn. Điều này khiến giá công bố trong nhiều trường hợp chỉ mang tính tham khảo, khó áp dụng trực tiếp vào quản lý chi phí và thanh toán hợp đồng.

Bên cạnh đó, việc sử dụng giá công bố làm căn cứ điều chỉnh hợp đồng cũng gặp nhiều vướng mắc khi cơ chế hiện hành chưa đủ linh hoạt để phản ánh kịp thời biến động thị trường.

Từ chỉ đạo điều hành đến yêu cầu hoàn thiện thể chế

Không chỉ dừng ở giải pháp trước mắt, vấn đề quản lý giá vật liệu xây dựng đã được đặt ra ở tầm chiến lược trong Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 3/2/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới.

Chỉ thị chỉ rõ, công tác quản lý và phát triển vật liệu xây dựng còn nhiều bất cập như quy hoạch chưa gắn với vùng nguyên liệu, chính sách thiếu đồng bộ, thị trường còn mất cân đối cung – cầu, hiệu quả quản lý chưa cao.

Đáng chú ý, Chỉ thị yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về vật liệu xây dựng và bảo đảm phát triển bền vững, cân đối cung – cầu.

Đặt trong bối cảnh này, Văn bản 4385 của Bộ Xây dựng có thể được xem là giải pháp ngắn hạn nhằm ứng phó với biến động giá, trong khi Chỉ thị 03-CT/TW hướng tới xử lý những vấn đề mang tính nền tảng của thị trường vật liệu xây dựng.

Tuy nhiên, điểm giao thoa của hai cấp độ chính sách này chính là cơ chế quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Nếu giá vật liệu không được phản ánh sát thực tế, hoặc cơ chế điều chỉnh hợp đồng chưa đủ linh hoạt, thì việc triển khai các dự án vẫn sẽ gặp khó khăn, dù có tăng cường quản lý hay bình ổn giá.

Văn bản số 4385/BXD-KTQLXD cho thấy nỗ lực của Bộ Xây dựng trong việc kiểm soát biến động giá vật liệu và bảo đảm tiến độ các dự án đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai, yêu cầu đặt ra không chỉ là cập nhật giá kịp thời mà còn là hoàn thiện thể chế, nâng cao tính linh hoạt trong quản lý chi phí và điều chỉnh hợp đồng. Đây sẽ là yếu tố then chốt để các chính sách đi vào cuộc sống, góp phần ổn định thị trường và nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng trong giai đoạn tới.

Xuân Trường