Biến giá trị thiên nhiên thành nguồn lực hỗ trợ du lịch và bảo tồn
(PLVN) - Việt Nam sở hữu mức độ đa dạng sinh học đặc biệt cao, với nhiều hệ sinh thái và loài có ý nghĩa bảo tồn toàn cầu, đây là một lợi thế quan trọng để phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên. Tuy nhiên, “bài toán” đặt ra là làm thế nào để giá trị kinh tế từ thiên nhiên được quay trở lại phục vụ bảo tồn, đồng thời mang lại sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Một bước tiến lớn từ sáng kiến của Liên hợp quốc
Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học (NBCA), Bộ Nông nghiệp và Môi trường (MAE) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) mới đây đã khởi động Dự án “Thúc đẩy bảo tồn loài hoang dã và du lịch dựa vào thiên nhiên có trách nhiệm vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam” (dự án WTP), do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua UNDP tại Việt Nam. Theo đó, địa điểm thực hiện dự án là tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường và 2 tỉnh Quảng Trị (địa bàn thí điểm là Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng) và tỉnh Khánh Hòa (địa bàn thí điểm là Vườn Quốc gia Núi Chúa).
Theo Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, du lịch đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Cụ thể, Luật Du lịch đã tạo cơ chế thúc đẩy du lịch dựa vào thiên nhiên. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nêu rõ “Bảo tồn đa dạng sinh học kết hợp sử dụng bền vững các dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân”.
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng yêu cầu cụ thể “tăng cường bảo vệ các di sản thiên nhiên, phục hồi các hệ sinh thái; ngăn chặn xu hướng suy giảm đa dạng sinh học”. Đồng thời, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, trong đó đề ra năm “quan điểm” ưu tiên: Phát triển du lịch bền vững và bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hóa sự đóng góp của du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Mặc dù hệ thống chính sách hiện tại tương đối đầy đủ, thực tế cho thấy, nếu không được quy hoạch và quản lý phù hợp, tăng trưởng du lịch cũng có thể tạo thêm áp lực lên các hệ sinh thái thông qua phát triển cơ sở hạ tầng thiếu kiểm soát, ô nhiễm và chất thải, quá tải du khách, khai thác tài nguyên không bền vững, xáo trộn sinh cảnh và gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm từ động vật hoang dã.
Trong khi đó, tiềm năng của du lịch trong việc tạo nguồn tài chính cho bảo tồn và mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng địa phương vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Các khoảng trống hiện nay không chỉ nằm ở nguồn lực tài chính, thiếu hướng dẫn và tiêu chí kỹ thuật về du lịch dựa vào thiên nhiên, hạn chế trong phối hợp liên ngành, cũng như sự tham gia còn chưa tương xứng của cộng đồng và khu vực tư nhân.
Để giải quyết những thách thức này, dự án WTP thúc đẩy du lịch dựa vào thiên nhiên có trách nhiệm, trong đó các hoạt động du lịch góp phần hỗ trợ quản lý khu bảo tồn, bảo vệ loài và sinh cảnh, đồng thời tạo thêm cơ hội kinh tế và sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Lồng ghép giới xuyên suốt quá trình xây dựng, rà soát chính sách
Một trong những điểm nhấn đang chú ý là vấn đề bình đẳng giới. Bà Hoàng Thu Thủy, cán bộ chương trình UNDP Việt Nam cho biết: Theo phân tích do đơn vị tư vấn thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án, tại cả hai vườn quốc gia, phụ nữ, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số, đang chịu thiệt thòi kép như trình độ học vấn và khả năng đọc viết thấp hơn nam giới, ít cơ hội tiếp cận đất đai, tín dụng và việc làm chính thức; đồng thời gần như đứng ngoài các cuộc họp quyết định sinh kế của chính cộng đồng mình. Theo đó, du lịch dựa vào thiên nhiên có thể tạo ra nhiều cơ hội cho phụ nữ trong các lĩnh vực như hướng dẫn du lịch, dịch vụ lưu trú, dịch vụ du lịch, thủ công mỹ nghệ, vận hành thuyền và các sinh kế địa phương khác.
Trên cơ sở đó, dự án WTP xác định lồng ghép giới được thực hiện xuyên suốt trong các hoạt động về xây dựng, rà soát chính sách, nâng cao năng lực, sinh kế du lịch, quá trình ra quyết định và chia sẻ lợi ích - thay vì được xem như một hoạt động riêng biệt. Đáng chú ý, dự án đặt chỉ tiêu 44% trong tổng số khoảng 3.000 người hưởng lợi trực tiếp phải là phụ nữ - một mục tiêu tương đối cao. Ở khía cạnh sinh kế, dự án dự kiến tạo mới, phục hồi hoặc ổn định 1.800 việc làm “xanh”, trong đó 70% dành cho phụ nữ.
Cùng với đó là sáu nhóm giải pháp cụ thể: từ việc lồng ghép phân tích giới vào quy hoạch, bảo đảm cân bằng giới trong đào tạo, đến việc thu thập số liệu tách biệt theo giới trong toàn bộ hệ thống theo dõi, giám sát. Đây là cách tiếp cận không mới trên thế giới, nhưng còn khá hiếm trong các dự án bảo tồn quy mô lớn ở Việt Nam, nơi câu chuyện giới thường bị xem là vấn đề “mềm”, dễ bị gạt sang một bên khi va chạm với các ưu tiên kỹ thuật.
Nhìn chung, dự án được kỳ vọng sẽ hướng tới những thay đổi mang tính hệ thống trong hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học được lồng ghép vào phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên tại Việt Nam.