Bắt sống giặc trời Anvaret

Ngày 2 và 5-8-1964, tàu Ma-đốc của Hạm đội 7 Mỹ xâm phạm vùng biển Thanh Hoá. Các tàu chiến đấu của hải quân ta dũng cảm tấn công,, bắn bị thương tàu chiến Ma-đốc, bắn rơi máy bay, bắt sống phi công Anvaret, lập nên chiến tích “đánh thắng trận đầu” oanh liệt của Hải quân nhân dân Việt Nam và quân dân miền Bắc. Nhà báo Nguyễn Gia Phong đã dành nhiều thời gian để đi tìm  nhân chứng lịch sử cho sự kiện tên giặc lái Mỹ đầu tiên bị  bắt sống  trên vùng  trời Việt Nam.  

Theo chỉ dẫn của một người bạn, tôi đến ngã ba cọc 6 thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh), tìm đến ngôi nhà cấp 4 thấp lè tè mới gặp được bác Nguyễn Kim Bảo. Đúng lúc mất điện, tối, nóng, bác Bảo phe phẩy quạt, dõi về khoảng cách xa xăm, gợi lại dòng hồi ức.

“Tôi là chiến sĩ cơ yếu ở C7 Quân khu Đông Bắc, đóng quân trên đảo Cô Tô, định kỳ 6 tháng về Quân khu báo cáo và nhận chỉ thị mới. Đầu tháng 8- 1964, chiếc thuyền gỗ trọng tải khoảng 2 tấn đưa tôi về Hồng Gai họp và nhận quân nhu, lương thực cho đơn vị. Tôi là thượng sĩ, trước khi về Hồng Gai, chính trị viên Phó C7 Lý Văn Sâu phân công tôi là tổ trưởng chuyến đi. Trên thuyền còn có binh nhất Lê Văn Lộc và Phạm Bình Giang. Vũ khí trên thuyền có 1 khẩu súng ngắn K54 do tôi sử dụng, 2 khẩu AK và CKC. Khoảng 12 giờ ngày 5-8-1964, thuyền rời Bãi Cháy để về Cô Tô. Ngược gió, ngược nước, chở nặng, dù có kéo buồm và hai chèo tay mà thuyền tiến rất chậm. Trời lại nóng, chúng tôi chỉ mặc   quần đùi, áo may-ô.  Khoảng hơn 2 giờ chiều, thuyền vẫn lơ lửng ở vùng biển ngang Hà Tu. Chợt nghe tiếng súng nổ rền vang phía Hồng Gai. Chúng tôi cho thuyền ghé vào chân núi, ngước nhìn những chiếc máy bay quần đảo trên bầu trời. Chợt 1 máy bay trúng đạn, bốc cháy, đâm nhào xuống biển, cách thuyền chúng tôi khoảng 200 m, khói bốc lên đen kịt, nước sôi réo ùng ục, chiếc máy bay chìm nghỉm trong nước biển. Một chiếc dù rơi cách thuyền khoảng 50 m cũng đang chìm dần. Phát hiện gần đó một điểm đen đang động đậy, có 2 cánh tay giơ lên, chới với,  chúng tôi chèo thuyền áp sát thì thấy tên phi công Mỹ còn mặc nguyên quần áo bay. Tôi phân công đồng chí Lộc lái thuyền, đồng chí Giang ở phía mũi thuyền yểm trợ cho tôi bắt tù binh. Tôi giơ súng uy hiếp, tay trái bám mạn thuyền, tôi cúi xuống mép nước dùng tay phải túm lấy lưng áo tên phi công. Hai đồng chí Lộc, Giang xúm đến  giúp tôi kéo tên phi công lên thuyền. Ngôn ngữ bất đồng, tôi chỉ vào khẩu súng ngắn, ý hỏi súng của anh ở đâu ? Tên phi công chỉ xuống nước ( ý nói súng rơi xuống nước). Tôi chỉ vào con dao găm của mình, hắn chỉ vào túi chiếc áo treo ngang thắt lưng. Tôi thu được 1 con dao găm. Lại chỉ vào túi chiếc áo treo trong thuyền. Hắn hiểu ý chỉ vào chiếc áo bay. Tôi nhận được một chứng minh thư quân nhân, giở ra đúng là ảnh của hắn, còn ghi chữ gì không biết. Chúng tôi trói tên phi công vào chân cột buồm, phủ một phần vải buồm lên người hắn vì lúc đó máy bay Mỹ còn lượn trên trời tìm kiếm. Cho thuyền ghé vào chân núi, 3 anh em bàn bạc: quay thuyền về quân khu thì đường xa, thuyền chở nặng, ta cứ chờ đây xem  trong thị xã có ai ra tìm tù binh không. Ba anh em giở thuốc lá ra hút, mời tên tù binh một điếu, hắn cũng hút liền. Một lúc sau có tàu Hải quân tới, chúng tôi liền nói: chúng tôi là bộ đội Cô Tô, đã bắt được tên phi công Mỹ nhảy dù xuống biển, xin bàn giao lại cho các đồng chí, nhờ các đồng chí về báo với Quân khu. Lúc này có vài thuyền đánh cá cũng chèo đến xem mặt tên tù binh gây tội ác ở Hồng Gai. Chiến công này của tôi đã được Quân khu tặng bằng khen, còn hai đồng chí Lộc, Giang được tặng giấy khen”.

Tìm đến nhà báo Nguyễn Công Vượng, người đầu tiên chụp ảnh tên giặc lại Anvaret.  Nhà báo bồi hồi: Tin vui bắt được phi công Mỹ đến với Toà soạn Báo Vùng Mỏ (tiền thân của Báo Quảng Ninh ngày nay) thì trời đã  chạng vạng tối. “Phải ghi hình ngay tên phi công đầu tiên bị bắt làm tù binh để công khai cho thế giới biết về hành động hiếu chiến của đế quốc Mỹ”-  tôi nghĩ. Máy ảnh đã dược kiểm tra kỹ lưỡng. Chiếc đèn Brum do Tây Đức sản xuất là loại đèn flash hiện đại và đắt tiền mới mua lại của kiều bào Tân Đảo về nước. Tôi được dẫn đi qua căn phòng để thi hài các chiến sĩ hy sinh chiều nay trong cuộc chiến đấu với không quân Mỹ. Mùi hương toả ra khiến lòng tôi nao nao, tự nhủ phải ghi được hình ảnh tên phi công Mỹ ở tư thế cúi đầu để thể hiện sự thất bại nhục nhã của chúng, đồng thời thể hiện khí thế chiến thắng của quân, dân Hồng Gai và các liệt sĩ nằm đây phải đổi cả mạng sống của mình góp phần làm nên chiến thắng 5-8. Trong căn phòng khoảng 4 m2, một đại uý Hải quân đang hỏi cung tên Anvaret, có ông Hoài Tân, cán bộ cảng Hồng Gai ra phiên dịch. Tên Anvaret ra vẻ bình thản, nhưng  con mắt cứ đảo nhìn hết người này đến người kia. Tôi chuẩn bị máy và đèn để chụp. Thấy tôi chuẩn bị chụp, tên phi công lại giở trò trợn mắt, méo mồm. Không cần phiên dịch, tôi quắc mắt nhìn thẳng vào hắn. Hắn không giở trò hề nữa những vẫn cúi đầu quá thấp. Tôi chụp kiểu ảnh thứ nhất, lên phim chớp thời cơ tên Anvaret hơi ngửng đầu, mắt cụp xuống. Tôi chụp kiểu thứ 2, thứ 3. Về đến toà soạn tôi cùng đồng nghiệp vào phòng tối rửa ảnh ngay. Kiểu thứ nhất bị lệch, kiểu thứ 2 hình Anvaret bị mất 1 chỏm đầu, kiểu thứ 3 hắn vẫn trợn mắt, méo mồm. Phân vân qua không biết chọn kiểu nào. Đã hơn 12 giờ đêm, tôi quyết định tìm gặp đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Thọ Chân xin ý kiến. Đồng chí quyết định chọn kiểu chụp Anvaret ở tư thế cúi đầu. Sáng ngày 6-8-1964, báo Vùng Mỏ đăng  ngay bức ảnh  phi công Mỹ Anvaret, tên tù binh đầu tiên bị quân, dân  Hồng Gai bắt sống.  Bức ảnh sau đó được các cơ quan thông tin trong nước và nước ngoài đăng lại. Đó là  bức ảnh lịch sử góp phần ghi lại thành tích oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.      

Việt Anh ghi  theo lời nhà báo Nguyễn Gia Phong  

 

 

Diễn biến chính trận ngày 2 và 5-8-1964 qua góc nhìn của ét-Uốt -chuyên gia nghiên cứu lịch sử Mỹ

 

 

“Tư lệnh Hạm đội 7 đã chỉ thị mở rộng các cuộc tuần tiễu mang mật danh “Desoto”, cho phép tiến gần cách bờ biển đối phương 4 hải lý để trinh sát.

Đầu tháng 7-1964, tướng Uy-li-am Oét-mo-len, Chỉ huy mới của Phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ tại Việt Nam yêu cầu “Desoto” theo dõi, hỗ trợ  và chỉ huy nhóm  34-A phá hoại các mục tiêu kinh tế quân sự  ở Vĩnh Sơn (Nam đèo Ngang)và khu vực các đảo Hòn Mê, Hòn Ngư.. thuộc vùng biển Thanh Hoá. Tàu Ma-đốc, số hiệu DD-731  nhận lệnh từ Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân vào ngày 20-7. Trong kế hoạch tuần tiễu của tàu Ma-đốc ở Vịnh Bắc Bộ, nó phải qua 16 điểm dọc theo lãnh hải Bắc Việt Nam. Tới mồi điểm, nó phải thu thập các thông tin, số liệu cần thiết bằng phương tiện điện tử và mắt thường, sau đó tiếp tục hành quân đến điểm tiếp theo. Thuyền trưởng tàu Ma- đốc là Hơ-bớt Logiơ, trung tá chỉ huy trưởng Hải đoàn tàu khu trục số 192 và chỉ huy trưởng nhóm tác chiến đặc biệt số 72-1 của Hạm đội 7, đại tá Hơ-rích cùng đi trên tàu Ma đốc. Lúc 10 giờ 45 phút ngày 2-8 –1964, tàu Ma- đốc đến điểm Đen-ta ( nơi nó vòng qua vòng lại trong 8 giờ đồng hồ ngoài khơi Thanh Hoá). 14 giờ, Ma-đốc phát hiện các xuồng tuần tiễu (T140,146) và các xuồng P4 phóng ngư lôi (333,336,339) được lệnh tiến công Ma-đốc.Hơn 15 giờ, Ma-đốc chuyển hướng chếch lên  và yêu cầu yểm hộ bằng không quân. Tư lệnh Hạm đội 7 lệnh cho tàu sân bay Ti-cơn-đô-rơ-ga phái 4 máy bay F-8E và tàu khu trục Tớc-nơ-gioi đến trợ chiến cho Ma-đốc. Cuộc hải chiến xảy ra ngay sau đó. Tàu Ma-đốc bị Hải quân Bắc Việt bắn trúng bằng hoả lực của pháo 14 ly 5. Các xuồng tấn công (P4) của Hải quân Bắc Việt vừa lái tránh hoả lực của Ma-đốc và máy bay vừa bình tĩnh đương đầu với hoả lực bắn chặn từ tàu Ma-đốc và tiến công mãnh liệt bằng ngư lôi, pháo 14 ly 5 vào Ma-đốc”