Bảo tồn vườn quốc gia Cát Bà- Không thể thiếu sự tích cực của người dân
Vườn quốc gia Cát Bà là nơi bảo tồn sự đa dạng sinh học, giữ nguyên vẹn, tổng thể tài nguyên rừng, biển và nước. Việc bảo tồn cần có sự tham gia của các cấp, ngành, trong đó, lực lượng nòng cót nhất vẫn là người dân.
Từ bỏ thói quen xấu
Vuờn quốc gia Cát Bà là một quần thể với hàng nghìn loài động, thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm như Voọc đầu trắng (chỉ có ở Cát Bà). Những năm qua, Vườn quốc gia Cát Bà thực hiện ba nhiệm vụ thường xuyên là bảo tồn, nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch. Trong đó, bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ xuyên suốt và quan trọng nhất. Kinh nghiệm cho thấy, việc bảo tồn không thể thành công, nếu coi đó chỉ là nhiệm vụ của riêng Vườn quốc gia Cát Bà.
|
Vườn quốc gia Cát Bà có diện tích 26.240 ha, trong đó, 17.040 ha đất đảo và 9.200 ha mặt nước biển. Nơi có nhiều hệ sinh thái khác nhau như rừng ngập mặn, rừng trên núi đá vôi, rừng biển với các rạn san hô. Hệ động thực vật đa dạng, gồm 2.320 loài, trong đó có 282 loài động vật sống trong rừng, 538 loài động vật sống ở đáy biển, 196 loài cá biển, 771 loài thực vật trên cạn, 23 loài thực vật ngập mặn, 75 loài rong biển, 177 loài san hô... |
Ở thị trấn Cát Bà, nhiều người biết đến tên hai người, một người tên H. chuyên đi săn, bắt động vật trong rừng quốc gia, được mệnh danh là “sát thủ rừng sâu” và một người tên T có thú vui thưởng thức các món ăn từ động vật hoang dã. H. không nghề nghiệp, nên coi nghề săn bắt, bẫy động vật hoang dã là kế mưu sinh, anh cho biết: “Vào rừng quen rồi, có những chuyến ở lại trong rừng hàng tuần săn, bẫy động vật như khỉ, tắc kè, trăn,…”. H thừa biết việc săn, bẫy như vậy bị cấm, nhưng thản nhiên cho rằng: “Đây là thú vui, với lại không có tiền thì phải đi săn thôi”. Không biết có bao nhiêu động vật bị rơi vào tay H, nhưng nhìn cái bẫy sập động vật như bẫy chuột, chỉ khác là to hơn gấp 2, 3 lần treo ở gác bếp nhà H, chúng tôi hiểu rằng, nhiều động vật trong rừng Cát Bà tiếp tục phải đối mặt với nạn săn, bẫy, trong đó có loài Voọc quý giá đang nguy cơ tuyệt chủng.
Có lần Kiểm lâm bắt vụ chặt phá gỗ lậu ngay gần trụ sở Vườn quốc gia, Quyền Giám đốc Vườn quốc gia Cát Bà Hoàng Văn Thập cho biết: “Từ đầu năm đến nay, kiểm lâm Vườn quốc gia bắt và xử lý 1 vụ vận chuyển lâm sản, 4 vụ khai thác gỗ, phá 595 bẫy các loại và nhiều vụ khai thác trái phép thuỷ sản. Tuy nhiên, địa hình phức tạp, rộng lớn, lực lượng kiểm lâm khoảng 60 người khó có thể quản lý và phát hiện hết những vụ xâm phạm nếu không có sự hợp tác tích cực của người dân”.
Để người dân được hưởng lợi từ rừng
Gần đây, nạn chặt phá gỗ, săn, bẫy động vật hoang dã giảm nhiều, khi có sự quản lý và bảo vệ chặt chẽ của các ngành, lực lượng kiểm lâm và sự phối hợp của người dân. Nhưng do lợi nhuận cao, nhu cầu đi kèm với sự phát triển du lịch và người dân quen sống phụ thuộc vào rừng, tình trạng vi phạm vẫn diễn biến rất phức tạp. Thực tế, một ngày công lao động khoảng 50 nghìn đồng, trong khi bẫy một con khỉ, bán được 300.000 - 500.000 đồng, nên người dân ở đây thường chọn công việc thứ hai. Mặt khác, việc hợp tác với người dân trong bảo tồn chưa đề cao trách nhiệm gắn với quyền lợi. Vườn quốc gia Cát Bà giao cho các gia đình bảo vệ rừng, nhưng thù lao một năm khoảng 100.000 đồng/ha, trong khi mỗi gia đình chỉ được giao từ 3 đến 5 ha nên số tiền thu được không đáng kể.
|
Quần đảo Cát Bà có 60 loài đặc hữu quý hiếm được đưa vào Sách đỏ Việt Nam, động vật có Voọc đầu trắng, Voọc quần đùi trắng, Quạ khoang, Sóc đen…; thực vật có Thổ phục linh, Lát hoa, Kim giao, Sến mật,.. Ðặc biệt rừng Kim giao, một loại cây đặc hữu sống thành tập đoàn trên diện tích hàng chục ha giữa trung tâm vườn, ở khu vực Trung Trang. Hiện ở Cát Bà chỉ còn 60 - 70 con Voọc đầu trắng , loài đặc hữu duy nhất ở nước ta và trên thế giới. |
Để người dân coi cây cỏ, con vật, núi đá như tài sản của nhà mình để bảo vệ, theo ông Hoàng Văn Thập: “Ngoài tạo việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp cho họ thông qua các dự án du lịch trên địa bàn, cần có một để án lâu dài, định hướng phát triển khu bảo tồn, trong đó, quan trọng nhất là cộng đồng người dân phải là lực lượng chính trong việc bảo tồn. Hướng tới giao cho các hộ dân bảo vệ, được hưởng lợi từ rừng để họ coi đó là mảnh vườn, tài sản của nhà mình ”.
Muốn vậy, trước hết cần nêu cao trách nhiệm, nhận thức của các cấp, ngành, lãnh đạo địa phương. Giao trách nhiệm bảo vệ cho lãnh đạo từ huyện đến các xã, gắn với chế độ, chính sách như thu hút dự án, phát triển du lịch để chính quyền địa phương chuyển đổi nghề nghiệp cho dân. Đưa các chuyên đề về khu bảo tồn và cách thức bảo vệ vào giáo dục trong các nhà trường, giúp thế hệ trẻ hiểu, tự hào về tài sản vô giá của quê hương và tham gia bảo vệ rừng.
Phạm Văn