Bảo hiểm y tế “phủ sóng” 60% dân số

BHYT là một chính sách mang ý nghĩa nhân đạo, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Liên quan đến những kết quả đạt được qua hơn một năm triển khai thi hành Luật, phóng viên PLVN Chuyên đề đã có cuộc trao đổi với bà Tống Thị Song Hương - Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế).

BHYT là một chính sách mang ý nghĩa nhân đạo, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Liên quan đến những kết quả đạt được qua hơn một năm triển khai thi hành Luật, phóng viên PLVN Chuyên đề đã có cuộc trao đổi với bà Tống Thị Song Hương - Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế). Bà Hương cho biết:

Toàn ngành đã thực hiện Luật BHYT với chủ đề “BHYT -  Chất lượng và sự hài lòng của người bệnh”, với thực hiện Quy tắc ứng xử và Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Để đảm bảo việc hướng dẫn thực hiện Luật cũng như đáp ứng yêu cầu trong tổ chức thực hiện chính sách, một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo thực hiện đã được ban hành như Nghị định số 62/2009/NĐ-CP, Thông tư số 10/2009/TT-BYT, Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC…

Hơn 50 triệu dân tham gia BHYT

Với lộ trình tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2014, số người tham gia BHYT hiện đã có sự gia tăng mạnh chưa, thưa bà?

Năm 2010, số đối tượng tham gia BHYT đã tăng từ 39,749 triệu người năm 2008 lên 50,771 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ 60% dân số. Như vậy, so với thời điểm trước khi có Luật, số người tham gia BHYT đã tăng được 27%.

Bảo hiểm y tế “phủ sóng” 60% dân số
Số lượt KCB BHYT tăng 24% so với năm 2009, từng bước đổi mới, áp dụng các phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT theo quy định của Luật. Số thu tăng 91% so với 2009 và năm 2010, quỹ BHYT đã cân đối thu chi và bắt đầu có kết dư.

Ngoài ra, đến nay đã có 8.204 cơ sở ký hợp đồng và tổ chức KCB BHYT, tăng 561 cơ sở so với 2009, trong đó 50 cơ sở tuyến TƯ, 510 cơ sở tuyến tỉnh, TP., 1.190 cơ sở tuyến quận huyện; 276 cơ sở tư nhân và khoảng 60% số trạm y tế xã.

Cũng phải nói rõ rằng, Luật BHYT có hiệu lực từ 1/7/2009 nhưng chính thức từ 1/1/2010 mới triển khai rộng rãi trong phạm vi toàn quốc. Vì vậy, những thông tin, số liệu trên được thống kê trong một năm qua.

Để người dân hiểu được quyền lợi của mình khi tham gia BHYT thì không thể không đẩy mạnh công tác tuyên truyền?

Công tác tuyên truyền Luật BHYT đã được tổ chức với nhiều hình thức khác nhau, phù hợp với điều kiện và các nhóm đối tượng. Từ đó, đã có tác động và hiệu quả, các cấp ủy, HĐND, UBND quan tâm chỉ đạo thực hiện, huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong triển khai thi hành Luật.

Các hoạt động tuyên truyền đa dạng trên đã tạo thuận lợi cho cả người tham gia BHYT, các cơ sở KCB và cơ quan quản lý quỹ BHYT, giảm bớt những bức xúc trong thực hiện BHYT. Một số địa phương đã chủ động dùng nguồn ngân sách địa phương hỗ trợ mức đóng BHYT cho người thuộc hộ cận nghèo, học sinh sinh viên (HSSV), hỗ trợ một số nhóm đối tượng người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) trong cùng chi trả 5% chi phí KCB.

Có thể vẫn tiếp tục vướng mắc trong thanh toán

Mặc dù đã có những thành quả trên nhưng dư luận cho rằng vẫn tồn tại không ít hạn chế. Bà có thể thẳng thắn chỉ ra một số bất cập không?

Trước hết là, tỷ lệ tham gia chưa đạt được như mong muốn, đặc biệt là tính tuân thủ pháp luật về BHYT chưa cao. Ngay cả đối tượng bắt buộc cũng chưa tham gia đủ theo quy định. Cho đến nay mới chỉ có 60% người lao động (NLĐ) trong các doanh nghiệp tham gia BHYT, hoặc là một số đối tượng được ngân sách nhà nước bảo đảm, hỗ trợ như trẻ em dưới 6 tuổi, cận nghèo cũng chưa tham gia BHYT.

Hai là, việc phối hợp liên ngành và quản lý nhà nước về BHYT tại địa phương. Trên thực tế vẫn còn tình trạng người dân thắc mắc tại sao thẻ BHYT đến chậm, đăng ký KCB ban đầu chưa phù hợp với nguyện vọng của người tham gia BHYT… Nguyên nhân của những vấn đề này là do phối hợp liên ngành ở địa phương chưa chặt chẽ. Về quản lý nhà nước ở địa phương, trong khi BHYT là một chính sách đặc thù đòi hỏi sự tham gia lồng ghép của các ngành liên quan trên địa bàn thì các Sở Y tế chưa có phòng BHYT, cán bộ tham mưu chủ yếu là kiêm nhiệm. Vì thế, nhiều vướng mắc phát sinh trong thực tế giữa cơ sở KCB và cơ quan BHXH chưa được điều chỉnh, giải quyết kịp thời.

Tiếp nữa là, mặc dù đã triển khai công tác tuyên truyền tương đối quyết liệt nhưng ở một số địa phương, một số vùng chưa thực sự quan tâm đúng mức, người tham gia BHYT nhất là ở vùng sâu, vùng xa, người nghèo rất thiếu thông tin về những quy định mới của Luật BHYT.

Từ khi Luật có hiệu lực thi hành đến nay, Bộ Y tế đã phải trực tiếp chỉ đạo “gỡ vướng” như về thời hạn thẻ BHYT, chi trả BH cho những người bị tai nạn giao thông. Ở góc độ một nhà quản lý, bà có cho rằng sẽ còn những vướng mắc tương tự không?

Những vướng mắc nêu trên chủ yếu là trong khâu tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở chứ không phải do Luật quy định không đầy đủ, rõ ràng. Quá trình triển khai thi hành Luật, cơ quan BHXH và các cơ sở KCB chưa có cách hiểu thống nhất như nhau đối với các nội dung quy định trong Luật BHYT. Chẳng hạn, thanh toán BHYT cho các trường hợp bị tai nạn giao thông do khó khăn trong việc xác định tình trạng vi phạm pháp luật về giao thông; thực hiện cùng chi trả cho một số nhóm đối tượng, nhất là người nghèo, cận nghèo, hưu trí, người mắc bệnh nặng, bệnh mạn tính; thanh quyết toán chi phí KCB hàng năm thường chậm, là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nợ tiền thuốc của các công ty dược. Bởi thế, tôi cho rằng, một vướng mắc lớn sẽ còn tiếp tục chính là trong thanh toán chi phí KCB BHYT, một phần thì đây là vướng mắc vẫn đang tồn tại, một phần xuất phát từ phía cơ quan quản lý quỹ BHYT.

Xin cảm ơn bà!

Hoàng Thư (thực hiện)