Bảo đảm trẻ em được sống trong mái ấm gia đình

Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khoá 12, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17-6-2010 và có hiệu lực từ ngày 1-1-2011. Ngày 21-3-2011, Chính phủ  ban hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi. Nghị định có hiệu lực từ ngày 8-5-2011.

Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khoá 12, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17-6-2010 và có hiệu lực từ ngày 1-1-2011. Ngày 21-3-2011, Chính phủ  ban hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi. Nghị định có hiệu lực từ ngày 8-5-2011.

Ưu tiên trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc
Luật Nuôi con nuôi được ban hành nhằm điều chỉnh thống nhất việc NCN trong nước và NCN có yếu tố nước ngoài, tạo cơ sở pháp lý giải quyết các việc NCN đối với trẻ em. Đồng thời, Luật NCN còn thể hiện sự tôn trọng các cam kết quốc tế của Việt Nam khi tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em, bảo đảm việc NCN được tiến hành trên nguyên tắc nhân đạo, vì lợi ích  tốt nhất của trẻ em.

Bảo đảm trẻ em được sống trong mái ấm gia đình

Nhiều trẻ em bị bỏ rơi được nuôi dưỡng, chăm sóc tại Làng Nuôi dạy trẻ mồ côi Hoa Phượng. Trong số đó, có em tìm được mái ấm gia đình, trở thành con nuôi trong nước hoặc con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trong ảnh: Cùng vui chơi ngoài giờ học.                                     Ảnh: Minh Tuấn


Một nội dung cơ bản, quan trọng của Luật NCN là khi giải quyết việc NCN cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc. Nghĩa là quan tâm hơn đến quyền của trẻ em được sống trong gia đình ruột thịt, người thân, họ hàng, trong dân tộc nơi mình sinh ra. Chỉ khi không thể tìm được mái ấm gia đình cho trẻ em ở trong nước, cơ quan chức năng, cấp có thẩm quyền mới giới thiệu trẻ em làm con nuôi có yếu tố nước ngoài. Điều này mang tính nhân đạo cao và thể hiện tinh thần trước hết vì lợi ích của trẻ. Việc NCN phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi: tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Luật quy định, trẻ em được tìm gia đình nhận nuôi trong nước thời gian 150 ngày (đối với trẻ bị bỏ rơi đang được các cơ sở nuôi dưỡng), thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Trong trường hợp đã hết thời hạn thông báo tìm gia đình NCN, trẻ đang được làm thủ tục nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài mà có cơ hội được nhận làm con nuôi trong nước thì ưu tiên giải quyết việc NCN trong nước.

Tăng cường trách nhiệm của cán bộ tư pháp
Luật NCN và Nghị định 19 cũng quy định rõ trách nhiệm của cán bộ tư pháp. Đối với việc NCN trong nước, việc lấy ý kiến của những người liên quan về việc NCN do công chức tư pháp-hộ tịch của UBND cấp xã, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi trực tiếp thực hiện. Khi kiểm tra hồ sơ, công chức tư pháp-hộ tịch phải nghiên cứu, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và hoàn cảnh của những người liên quan. Trường hợp người được nhận làm con nuôi có cha mẹ đẻ, thì công chức tư pháp-hộ tịch kiểm tra việc cha mẹ đẻ có thỏa thuận với cha mẹ nuôi để giữ lại quyền, nghĩa vụ đối với con và cách thức thực hiện quyền, nghĩa vụ đó sau khi đã cho làm con nuôi. Đối với trường hợp NCN có yếu tố nước ngoài, việc kiểm tra, xác minh hồ sơ của trẻ em thuộc trách nhiệm của Sở Tư pháp. Với trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có nguồn gốc không rõ ràng, hoặc có dấu hiệu mua bán thì cơ quan công an tỉnh có trách nhiệm điều tra, xác minh làm rõ. Việc cho và nhận con nuôi trong nước được thực hiện tại UBND cấp xã, do công chức tư pháp hộ tịch  thực hiện các thủ tục, NCN có yếu tố nước ngoài thực hiện tại Sở Tư pháp. Như vậy, trách nhiệm của cán bộ tư pháp-hộ tịch các cấp rất lớn, đòi hỏi mỗi người phải có tinh thần trách nhiệm cao, hiểu và thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Theo ông Phùng Công Vĩnh, Trưởng phòng hành chính-tư pháp (Sở Tư pháp) tại Hải Phòng, những năm qua, việc thực hiện cho và nhận con nuôi được thực hiện khá chặt chẽ. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi (tại Bệnh viện Phụ sản, Bệnh viện Trẻ em) khi phát hiện được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng của thành phố, được làm giấy khai sinh, đưa về Làng Nuôi dạy trẻ mồ côi Hoa Phượng  nuôi dưỡng và chăm sóc; được thông tin tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp để tìm gia đình nuôi. Nhiều trẻ bị bỏ rơi tìm được mái ấm gia đình tại quê hương, trong nước, số ít em có mái ấm gia đình tại nước ngoài. Sau khi thực hiện việc giao nhận con nuôi, nhiều gia đình nhận con nuôi thông tin lại với UBND nơi họ cư trú về tình trạng của con nuôi. Việc cho và nhận con nuôi chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật góp phần ngăn chặn tình trạng nhận nuôi con nuôi để hưởng chế độ chính sách, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa của dân tộc, lợi dụng việc NCN vào các mục đích không trong sáng.

     Phương Nam