Bảo đảm chính sách thu hút đầu tư tạo lợi ích lan tỏa thực chất, sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước
(PLVN) - Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư tại Hội trường sáng 2/11, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt theo hướng gắn ưu đãi với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư; có tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả, tác động lan tỏa, đồng thời tăng cường giám sát, xử lý và thu hồi ưu đãi đối với các trường hợp không thực hiện đúng cam kết.
Phát biểu tại phiên thảo luận, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm chính sách thu hút đầu tư tạo được lợi ích lan tỏa thực chất, đồng thời sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn TP Hải Phòng) bày tỏ tán thành việc Cơ quan soạn thảo đã làm rõ cơ chế hỗ trợ sau, trách nhiệm chứng minh điều kiện hưởng hỗ trợ, đánh giá hồ sơ và giám sát thực hiện. Điểm c khoản 4 cũng đã chuyển từ “xem xét thu hồi” sang “thu hồi” khi nhà đầu tư không đáp ứng tiêu chí, điều kiện hoặc không thực hiện đầy đủ cam kết.
Tuy nhiên, để cơ chế này được áp dụng thống nhất, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện hai nội dung.
Một là, cần xác định rõ kết quả đầu ra, thời điểm kiểm chứng và trách nhiệm xác nhận đối với từng nhóm cam kết.
Theo đại biểu, dự thảo Luật đã quy định hỗ trợ trên cơ sở kết quả thực hiện cam kết, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết.
“Vấn đề đặt ra là khi quyết định hỗ trợ, các bên phải biết rõ kết quả nào cần đạt, được đánh giá vào thời điểm nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm xác nhận. Chi phí đào tạo có đủ chứng từ chưa tự nó chứng minh người lao động đã đạt kỹ năng cam kết. Chi phí tư vấn, cải tiến kỹ thuật đã phát sinh hợp lệ chưa tự nó chứng minh doanh nghiệp trong nước đã nâng được năng lực sản xuất. Đối với chuyển giao công nghệ, kết quả cần được đánh giá qua khả năng tiếp nhận, khai thác và sử dụng của bên nhận”, đại biểu nêu vấn đề.

Do đó, đại biểu đề nghị làm rõ trong nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 17 việc xác định kết quả đầu ra, phương pháp, thời điểm kiểm chứng và chủ thể xác nhận theo từng loại hình hỗ trợ. Những yêu cầu này phải được xác định trong hồ sơ làm căn cứ quyết định hỗ trợ, giúp doanh nghiệp dự báo được nghĩa vụ và cơ quan thực hiện có căn cứ đánh giá thống nhất.
Đối với hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng tại điểm đ khoản 6, cần ưu tiên kiểm chứng những kết quả thuộc phạm vi cam kết như năng lực đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm định, thiết kế, quản trị. Việc có được hợp đồng cung ứng còn phụ thuộc thị trường và quyết định của bên mua, nên cần phân biệt kết quả nâng cao năng lực với kết quả thương mại tiếp theo.
Nội dung thứ 2 được đại biểu đề cập là cần phân biệt điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách với chỉ tiêu cam kết có thể thực hiện theo giai đoạn, hạng mục.
Đại biểu chỉ ra, dự thảo Luật quy định thu hồi hỗ trợ khi nhà đầu tư “không thực hiện đầy đủ cam kết”. Trong khi đó, Báo cáo giải trình nêu mức hỗ trợ được xác định tương ứng với chi phí thực tế và mức độ đáp ứng điều kiện.
“Vì vậy, cần làm rõ nguyên tắc xác định phạm vi thu hồi. Nếu không đáp ứng điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách thì phải thu hồi khoản đã hưởng không đúng. Nhưng đối với chỉ tiêu có thể tách riêng theo giai đoạn, hạng mục, cần xác định khoản hỗ trợ tương ứng bị điều chỉnh, thu hồi; tránh việc không hoàn thành một chỉ tiêu dẫn đến thu hồi cả khoản hỗ trợ cho những hạng mục độc lập đã thực hiện đúng”, đại biểu nói và đề nghị bổ sung nguyên tắc phân biệt này ngay tại dự thảo Luật; giao Chính phủ quy định cách xác định cụ thể.
Đại biểu nhấn mạnh quan điểm: Trường hợp kê khai gian dối phải được xử lý nghiêm. Quy định rõ vừa bảo vệ ngân sách, vừa hạn chế cách áp dụng tùy nghi, tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư thực hiện đúng cam kết.
Cũng góp ý về nội dung này, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) cũng cho rằng việc quy định tiêu chí để áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt là rất cần thiết. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị xác định cụ thể thế nào là doanh nghiệp có tác động lan tỏa, doanh nghiệp có khả năng tạo động lực phát triển, lôi cuốn các ngành, nghề và doanh nghiệp khác cùng phát triển.
“Đây phải là những tiêu chí rõ ràng, có thể đánh giá được, làm cơ sở xác định đúng đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt. Nếu chỉ quy định chung chung về tác động lan tỏa hoặc tạo động lực phát triển mà không có tiêu chí cụ thể thì rất khó xác định đối tượng được hưởng ưu đãi, dễ dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tế”, đại biểu nói.
Đại biểu Phạm Văn Hòa cũng đề nghị làm rõ cơ chế xử lý đối với những trường hợp nhà đầu tư đã được hưởng ưu đãi nhưng không hoàn thành dự án hoặc chỉ thực hiện được một phần dự án. Đặc biệt, theo đại biểu, cần có chế tài đối với những doanh nghiệp chậm thực hiện nghĩa vụ, chậm hoàn trả khoản ưu đãi hoặc cố tình kéo dài thời gian, gây khó khăn cho công tác thu hồi.
Đại biểu cũng đề nghị việc đánh giá hiệu quả đầu tư không chỉ căn cứ vào lợi nhuận mà phải tính đến tác động môi trường, hiệu quả sử dụng đất, quốc phòng và an ninh, nhất là đối với các dự án tại khu vực ven biển, hải đảo.
Liên quan đến chính sách hỗ trợ đầu tư đặc thù của địa phương, đại biểu Phạm Văn Hòa đề nghị có tiêu chí thống nhất, đặc biệt giữa các tỉnh trong cùng một vùng, tránh tình trạng mỗi địa phương đưa ra những điều kiện ưu đãi khác nhau, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh để thu hút nhà đầu tư.