Báo cáo kết quả điều tra các đơn tố cáo, phản ánh của công dân về việc làm giả hồ sơ để hưởng chế độ thương binh và chế độ da cam
Báo cáo kết quả điều tra các đơn tố cáo, phản ánh của công dân về việc làm giả hồ sơ để hưởng chế độ thương binh và chế độ da cam tại kỳ họp thứ 15 của HĐND tỉnh Thái Nguyên khoá XI
Trong năm 2010, UBND tỉnh Thái Nguyên đã tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng tập hợp, kiểm tra, xem xét để giải quyết cho những người hưởng chế độ thương binh, chất độc da cam, đến nay đã tiếp nhận được 8.386 hồ sơ và xem xét, giải quyết được 6.438 hồ sơ. Tuy nhiên UBND tỉnh nhận được nhiều đơn thư của công dân phản ảnh việc tiêu cực, làm hồ sơ giả để hưởng chế độ thương binh và chất độc da cam. Để giải quyết đơn thư tố cáo của công dân, UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cho các cơ quan chức năng xem xét, xác minh từng vụ việc cụ thể. Đến nay đã có những trường hợp đủ căn cứ kết luận làm giả hồ sơ để hưởng chế độ, còn một số trường hợp đang tiếp tục điều tra, làm rõ. UBND tỉnh báo cáo trước HĐND tỉnh như sau:
1. Đơn của CCB xã Tân Kim, huyện Phú Bình tố cáo 16 người ở xã Tân Kim làm giả hồ sơ để hưởng chế độ thương binh.
- Kết quả điều tra xác định trong 16 người bị tố cáo có 08 người là đảng viên, 05 người là cán bộ xã. Trước Cơ quan điều tra đã có 13/16 người thừa nhận thực tế họ chỉ bị thương nhẹ hoặc bị sức ép, nhưng không có giấy tờ gì chứng minh, và có 01 người khai có bị thương nhẹ nhưng đến nay không nhớ đã bị thương thế nào. Còn nội dung ghi bị thương trong hồ sơ đều là giả. Trong 13 người trên có 05 người khai tự làm giả hồ sơ và 08 người khai thuê người khác làm giả hồ sơ. Ngày 29/01/2010 đã có 05/13 người bị Bộ Tư lệnh QKI ra Quyết định thu hồi Quyết định cấp chứng nhận thương binh và trợ cấp thương tật. Cơ quan ANĐT đã thu giữ thẻ thương binh của 4/5 người trên, còn 01 người khai làm mất nên chưa thu được. Hiện còn 03/16 người chưa đủ cơ sở xác định vì họ vẫn khẳng định có bị thương thật, mặt khác chưa thu được hồ sơ gốc từ Cục Chính sách QKI.
- Tài liệu điều tra cũng đã xác định trong số 13 người nêu trên, có 01 người ngoài làm giả hồ sơ cho mình, còn cấu kết với 01 đối tượng ở xã Lương Phú và 01 đối tượng ở xã Đồng Liên (đã chết năm 2007) làm giả hồ sơ cho nhiều người khác để thu lời bất chính. Trong đó đối tượng ở xã Lương Phú đã thừa nhận ngoài làm giả hồ sơ cho nhiều người ở xã Tân Kim nêu trên để thu lời bất chính, còn làm giả hồ sơ cho chính minh để được hưởng chế độ thương binh và đã tự nguyện nộp lại cho Cơ quan điều tra 21 triệu đồng tiền thu lợi bất chính.
- Trong quá trình điều tra, cơ quan công an còn xác định thêm 03 người ở xã Thanh Ninh (01 người là cán bộ xã) cũng làm giả hồ sơ để được hưởng chế độ thương binh, trong đó có 02 người cũng đã bị Bộ Tư lệnh QKI ra Quyết định thu hồi Quyết định cấp Giấy chứng nhận thương binh và trợ cấp thương tật và Cơ quan ANĐT đã thu giữ 02 Thẻ thương binh này. Tuy nhiên trước cơ quan điều tra mới có 02 người thừa nhận làm giả hồ sơ bằng cách ghi thêm nội dung bị thương vào Lý lịch quân nhân, còn 01 người vẫn khai mình bị thương là thật. Trường hợp này Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh để làm rõ.
- Quá trình điều tra được biết ngày 02/12/2009, Thanh tra Sở LĐTB & XH cũng đã có kết luận hồ sơ của 08 người có dấu hiệu khai không đúng sự thật; trong đó có 05 trong số 13 người ở xã Tân Kim và 03 người ở xã Thanh Ninh nêu trên.
2. Đơn của công xã Ký Phú, huyện Đại Từ tố cáo ông Ngô Văn Chung ở xã Ký Phú không vào chiến trường miền nam, nhưng lại có tên trong danh sách những “ Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học” niêm yết công khai ở xã với tỷ lệ mất sức lao động 81%.
- Kết quả điều tra xác định đơn tố cáo của công dân là có căn cứ. Trước cơ quan điều tra, ông Chung khai ông có thời gian đi chiến trường B và cùng đi với ông có 03 người ở Đại Từ. Tuy nhiên cả ba người này đều khẳng định họ không có thời gian nào đi chiến trường B cùng ông Chung. Ngoài ra trong hồ sơ đề nghị hưởng chế độ, bản phô tô Quyết định phục viên của ông Chung đã được sửa thời gian từ 25/11/1974 thành 25/11/1975. Trước những chứng cứ mà cơ quan điều tra thu được, ông Chung đã phải thừa nhận khi đem Quyết định phục viên đi phô tô chứng thực, do thấy số cuối của năm ghi trong Quyết định bị mờ nên ông đã tự sủa lại là số 1975 và do tuổi cao, trí nhớ kém, nên khi kê khai làm hồ sơ da cam ông đã có nhầm lẫn về địa danh và đơn vị đóng quân.
- Việc làm của ông Chung đã phạm vào tội: Làm giả hồ sơ, tài liệu của cơ quan tổ chức, quy định tại khoản 1 Điều 267/BLHS. Tuy nhiên xét thấy ông Chung sai phạm lần đầu, có nhân thân tốt, đã có thời gian 09 năm phục vụ trong Quân đội, khi về địa phương lại có nhiều năm làm cán bộ chủ chốt của địa phương, quá trình công tác chưa có sai phạm gì. Mặt khác hồ sơ của ông Chung mới đang ở giai đoạn xét duyệt đã bị phát hiện, ông Chung chưa được hưởng chế độ và hiện đã già yếu. Vì vậy Cơ quan ANĐT đã có công văn gửi Đảng uỷ xã Ký Phú thông báo về sai phạm của ông Chung và đề Nghị Đảng uỷ xã có hình thức kiểm điểm về Đảng đối với ông Chung.
3. Đơn phản ánh của CCB ở phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên về việc có một số người ở xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương đã mua và sử dụng Giấy ra viện và bản sao bệnh án giả của Bệnh viện Tâm thần (BVTT) tỉnh Thái Nguyên để làm hồ sơ đề nghị hưởng chế độ da cam.
- Qua điều tra được biết: Ngày 06/5/2010, Cục Người có công - Bộ LĐTB & XH có Công văn số 334 hướng dẫn v/v lập hồ sơ người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học. Theo đó hồ sơ phải có Giấy ra viện, bản sao bệnh án chứng minh mắc một trong 17 bệnh được quy định trong Quyết định số 09/2008 ngày 20/2/2008 của Bộ Y tế và đã có thời gian điều trị từ 03 năm trở lên trước ngày ban hành Quyết định này.
- Qua nghiên cứu 207 hồ sơ đề nghị xét hưởng chế độ da cam của 06 xã gồm: xã Cổ Lũng, xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương; xã Phục Linh, xã Tân Thái huyện Đại Từ và xã Quyết Thắng, xã Thịnh Đức TP Thái Nguyên, xác định có 101/207 hồ sơ có: Giấy ra viện, bản sao bệnh án, Giấy chứng nhận bệnh tật, Sổ điều trị ngoại trú tâm thần do BVTT Thái Nguyên cấp, trong đó có 60 trường hợp đề cấp từ năm 2004. Trong các giấy tờ trên có chữ ký của PGĐ Bệnh viện ở mục đề Giám đốc BV; Trưởng khoa Nam thần kinh, hoặc một cán bộ của Phòng Kế hoạch tổng hợp của BVTT ở mục đề Trưởng khoa và có dấu của BVTT, hoặc dấu của Khoa khám bệnh hoặc khoa Nam thần kinh. Kết quả điều tra đã xác định được có 96/101 người trên thực tế không có ngày nào điều trị tại BVTT, trong đó có 83/96 trường hợp không có tên trong các sổ lưu trữ hồ sơ bệnh án (không có bệnh án); 13/96 trường hợp có tên trong sổ lưu trữ hồ sơ bệnh án (có bệnh án), nhưng thực tế cũng không ai nằm viện ngày nào.
- Khi được hỏi về việc có các loại tài liệu: Giấy ra viện, bản sao bệnh án, sổ điều trị ngoại trú tâm thần...của BVTT cấp, đã có 36 người thừa nhận không điều trị tại BVTT mà các giấy tờ trên là do họ mua hoặc xin được trong năm 2010. Trong đó có một số người khai xin được của cán bộ BVTT, còn đại đa số khai phải mua hoặc trực tiếp của các cán bộ BVTT, hoặc mua thông qua người khác với giá từ 01 triệu đồng đến 06 triệu đồng.
- Trước cơ quan điều tra, những cán bộ của BVTT ký tên trên các giấy tờ nêu trên đã thừa nhận trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2010 họ đã cấp rất nhiều các loại: Giấy ra viện, Giấy chứng nhận bệnh tật, Sổ đăng ký ngoại trú tâm thần... của BVTT, nhưng đề thời gian từ những năm 2004 hoặc 2005 cho những người thực tế không nằm điều trị tại BVTT để họ làm hồ sơ đề nghị hưởng chế độ da cam. Để hợp thức cho việc cấp các loại giấy tờ trên, họ đã tự lập ra hoặc chỉ đạo cán bộ dưới quyền mình lập ra các Bệnh án giả để nộp lên phòng Kế hoạch tổng hợp của Bệnh viện. Tài liệu điều tra bước đầu xác định những người này đã lập khống gần 100 hồ sơ bệnh án giả để hợp thức cho việc cấp các loại giấy tờ nêu trên nhằm thu lời bất chính. Xong đến nay mới chỉ có một người thừa nhận có nhận tiền trong việc này và tự nộp lại số tiền mà mình được nhận.
- Tài liệu điều tra cũng đã xác định được cùng tham gia vào việc làm các giấy tờ giả của BVTT nêu trên còn có một số người khác ở huyện Đại Từ và huyện Phú Lương, trong đó có một người ở Hùng Sơn, Đại Từ, là đối tượng năm 2009 đã cùng với vợ bị Công an huyện Đại Từ khởi tố bị can về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267). Nhưng do có sổ điều trị ngoại trú tâm thần nên đã được miễn truy cứu TNHS, còn vợ sau đó đã bị TAND huyện Đại Từ xử phạt 02 năm tù giam.
4. Đơn của CCB ở xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên đề nghị xem xét 03 người ở xã Thuận Thành hưởng chế độ chất độc da cam không đúng quy định Nhà nước. ( đơn nặc danh).
- Kết quả điều tra bước đầu xác định trong 03 người có tên bị tố cáo đủ căn cứ xác định hồ sơ của 01 người đã được làm giả. Trước cơ quan điều tra người này khai trong thời gian tại ngũ có được cấp trên (hiện người này đã chết) cử đi công tác tại Quân khu 4 ở Quảng Bình, Quảng Trị. Tuy nhiên không có tài liệu gì để chứng minh về việc này, nên đã tự nghi vào Lý lịch đảng viên của mình là có thời gian công tác ở vùng địch dải chất độc hoá học, để là căn cứ đề nghị hưởng chế độ da cam. Nay thấy việc làm của mình là sai và đề nghị Nhà nước cắt chế độ trợ cấp da cam đang hưởng.
- Hai trường hợp còn lại đều khai trong thời gian ở bộ đội có được đơn vị cử đi công tác tại Quảng Trị. Tuy nhiên căn cứ để xác định họ có thời gian công tác tại Quảng Trị không phải là tài liệu gốc ban đầu, mà là xác nhận do đơn vị cũ cấp lại sau này hoặc là xác nhận của đồng đội, nên cần phải xác minh tiếp để có căn cứ kết luận cụ thể từng trường hợp.
5. Đơn của công dân xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình tố cáo 06 người ở xã làm giả hồ sơ để hưởng chế độ thương binh (đơn nặc danh)
- Trong 06 người bị tố cáo có tên trong đơn, trước cơ quan Công an họ đều khai việc họ bị thương là có thật. Tuy nhiên tài liệu điều tra hiện mới đủ cơ sở xác định hồ sơ của 01 người là đúng. Còn hồ sơ của 05 người còn lại chưa đủ căn cứ kết luận vì chưa thu được các văn gốc trong đó nghi nội dung bị thương từ Cục Chính sách QKI. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra để làm rõ.
6. Đơn của công dân xã Nhã Lộng, huyện Phú Bình đề nghị thanh tra những người ở xã Nhã Lộng làm giả hồ sơ để hưởng chế độ thương binh và chế độ da cam. (đơn nặc danh)
- Kết quả điều tra bước đầu xác định về 12 người có tên trong đơn thì có 04 người bị tố cáo làm giả hồ sơ để được hưởng chế độ thương binh và 08 người bị tố cáo làm giả hồ sơ để được hưởng chế độ chế độ da cam.
- Đây là vụ việc mới phát hiện và điều tra, nên tài liệu điều tra đến nay mới đủ căn cứ xác định có 01 đã làm giả hồ sơ để được hưởng chế độ chế độ da cam. Trước Cơ quan điều tra, người này đã thừa nhận quá trình ở quân đội không có thời gian nào công tác ở tỉnh Bình Trị Thiên là vùng nhiễm chất độc hóa học, nhưng trước khi nghỉ hưu đã gặp cán bộ trợ lý của đơn vị đề nghị ghi thêm vào Quyết định nghỉ hưu có thời gian công tác tại địa bàn tỉnh Bình Trị Thiên để sau này làm chế độ chính sách. Nay thấy việc làm của mình là sai sót và xin được cắt chế độ trợ cấp da cam. Các trường hợp còn lại Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều ttra để làm rõ từng trường hợp cụ thể.
* Ngoài các vụ do Cơ quan ANĐT đang thụ lý điều tra nêu trên, trong năm 2009, CA Đại Từ đã khởi tố 03 vụ/09 bị can về tội làm giả hồ sơ để hưởng chế độ da cam và chế độ thương binh, thu giữ 169 tài liệu giả các loại gồm: Quyết định phục viên, Quyết định xuất ngũ, Giấy XYZ ( Giấy xác nhận có thời gian chiến đấu tại chiến trường miền nam)...Hiện các vụ trên đều đã kết thúc điều tra, chuyển VKS đề nghị truy tố:
Vụ thứ nhất: Hà Trọng Lâm cùng đồng phạm làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Tài liệu điều tra đã đủ căn cứ xác định: Lợi dụng chính sách của Nhà nước về giải quyết chế độ cho người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, trong hồ sơ phải có các giấy tờ chứng minh có thời gian công tác tại các vùng có nhiễm chất độc hoá học. Hà Trọng Lâm, SN 1949, trú tại xã Quyết Thắng, TPTN cùng vợ là Nguyễn Thị Sáng, SN 1965 đã cấu kết với các đối tượng khác đến các xã của huyện Đại Từ và các huyện khác vận động những người có nhu cầu mua các tài liệu trên để làm hồ sơ “chạy” chế độ thương binh và da cam nộp tiền cho vợ chồng Lâm. Sau đó Lâm tự tạo ra các loại giấy tờ: Quyết định phục viên, xuất ngũ, Giấy xác nhận có thời gian công tác tại Trung đoàn 6 TT Huế... rồi cùng vợ vào Trung đoàn 6 gặp ông Nguyễn Quang Thành, Thượng tá - Trung đoàn trưởng nhờ ông Thành ký và đóng dấu Trung đoàn 6. Mặc dù không có tài liệu gì về Hà Trọng Lâm và những người Lâm đề nghị xác nhận, nhưng ông Thành đã ký cho vợ chồng Lâm các giấy tờ trên. Ngoài ra ông Thành còn ký cho Lâm 30 tờ Quyết định và Giấy xác nhận khống. Lâm đem về thuê ông Phạm Văn Thắng, SN 1947, trú tại xã Phúc Trìu, TPTN và Trần Hùng Cảnh, SN 1950, trú tại xã Văn Yên, Đại Từ, viết các nội dung vào và bán cho mọi người giá từ 500.000đ đến 5.000.000đ một giấy.
Với thủ đoạn trên, Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2009, Lâm cùng những người trên đã bán 110 tài liệu giả cho 110 người, thu tổng số 318,5 triệu đồng. Căn cứ kết quả điều tra, Công an huyện Đại Từ đã khởi tố bị can đối với: Hà Trọng Lâm, Nguyễn Thị Sáng, Phạm Văn Thắng và Trần Hùng Cảnh, về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức ( khoản 2 Điều 267). Hiện nay vụ án trên đã được chuy ển cho VKSND huyện Đại Từ để truy tố các bị can ra trước pháp luật.
Vụ thứ 2: Dương Thị Tiến cùng đồng phạm làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Tài liệu điều tra đã đủ căn cứ xác định: Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2009, Dương Thị Tiến (SN 1954), trú tại xã Hùng Sơn, Đại Từ đã mua của Hà Trọng Lâm (bị can trong vụ án trên) và 01 đối tượng có tên là Bích ở TPTN tổng cộng 22 tài liệu giả gồm: Quyết định phục viên, xuất ngũ, Giấy XYZ (Giấy xác nhận chiến đấu tại chiến trường miền Nam) và bán lại cho 22 người ở Đại Từ để những người này sử dụng làm hồ sơ đề nghị hưởng chế độ da cam, thu lời bất chính 51,4 triệu đồng. Tham gia cùng Tiến còn có Bùi Công Lý (SN 1949), trú tại xã Tân Linh, Đại Từ và Cao Văn Giã (SN 1940), trú tại xã Cù Vân, Đại Từ. Căn cứ vào kết quả điều tra, Công an huyện Đại Từ đã khởi tố bị can đối với: Dương Thị Tiến, Bùi Công Lý và Cao Văn Giã, về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267). Trong tháng 8/2010 TAND huyện Đại Từ xử Dương Thị Tiến 02 năm tù giam, còn Bùi Công Lý và Cao Văn Giã xử án treo.
Vụ thứ 3: Trần Thái và Đỗ Ngọc Miên làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Tài liệu điều tra đủ cơ sở kết luận trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2009, Đỗ Ngọc Miên, SN 1942, trú tại xã Hùng Sơn, Đại Từ và Trần Thái, SN 1948, trú tại xã Phục Linh, Đại Từ đã mua 37 tài liệu giả gồm: Giấy chứng nhận Huân chương, Giấy XYZ, Quyết định phục viên, xuất ngũ...về bán lại cho 37 người để làm hồ sơ hưởng chế độ da cam và thương binh, thu lời bất chính 134,8 triệu đồng.
Công an huyện Đại Từ đã khởi tố bị can đối với: Trần Thái và Đỗ Ngọc Miên, về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Ngày 04/5/2010, TAND huyện Đại Từ đã xử Trần Thái 30 tháng tù treo và Đỗ Ngọc Miên 24 tháng tù treo.
Hiện nay Giám đốc Công an tỉnh đang chỉ đạo Cơ quan ANĐT tiếp tục điều tra làm rõ các vụ việc trên. Sau khi làm rõ từng trường hợp cụ thể sẽ có biện pháp xử lý theo quy định pháp luật:
- Đối với những người tự làm giả hồ sơ hoặc thuê người khác làm giả hồ sơ để được hưởng chế độ. Hành vi của họ đã phạm vào khoản 1 Điều 267/BLHS - tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Cần phải xử lý hành chính đồng thời đề nghị các cơ quan chức năng ra quyết định thu hồi các quyết định hưởng chế độ và truy thu lại toàn bộ số tiền mà họ đã hưởng nộp nhận sách Nhà nước.
- Đối với những người không những làm giả hồ sơ cho mình mà còn làm giả hồ sơ cho người khác để thu lời bất chính. Hành vi của họ đã phạm vào khoản 2 Điều 267/BLHS - tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, thì ngoài đề nghị các cơ quan chức năng ra quyết định thu hồi các quyết định hưởng chế độ và truy thu lại toàn bộ số tiền mà họ đã hưởng nộp nhận sách Nhà nước; cần phải khởi tố bị can để xử lý về hình sự.
Trên đây là Báo cáo của UBND tỉnh về Kết quả điều tra các vụ việc theo đơn tố cáo, phản ánh của công dân về việc làm giả hồ sơ để hưởng chế độ thương binh và chế độ da cam. UBND tỉnh xin báo cáo trước HĐND tỉnh khóa XI, kỳ họp thứ 15./.
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Vũ Hồng Bắc