Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011-2015

Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011-2015 được HĐND tỉnh khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 15

Phần thứ nhất
THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2006-2010

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 “Huy động tối đa mọi nguồn lực, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo sự phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu đến năm 2010 đưa tỉnh ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao một bước rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo tiền đề quan trọng để Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020”
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh phê duyệt và ra Nghị quyết số 26/2006/NQ-HĐND ngày 24/7/2006 về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010. Căn cứ Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, các Sở, Ban, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010.
Bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, cả nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng đứng trước những thời cơ, thuận lợi đó là kế thừa những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội sau 20 năm đổi mới; tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định; hệ thống pháp luật tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện; hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu, rộng... đã tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh những thuận lợi nói trên, việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức; đó là từ cuối năm 2007 tình hình kinh tế thế giới diễn biến theo chiều hướng phức tạp và không ổn định, đến năm 2008 cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng nề. Nước ta đang hội nhập ngày càng sâu, rộng với nền kinh tế thế giới, nên cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động mạnh đến đời sống kinh tế, xã hội đặc biệt từ giữa năm 2008. Tình hình dịch bệnh, thiên tai tiếp tục diễn biến phức tạp đã gây thêm khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân.
Với sự nỗ lực phấn đấu, phát huy tối đa các tiềm năng và cơ hội, đồng thời khắc phục những khó khăn thách thức, kinh tế - xã hội của tỉnh đã có những bước phát triển mới, kết cấu hạ tầng được đầu tư, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Dưới đây là các kết quả chủ yếu triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2006-2010 của tỉnh Thái Nguyên.
A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương các cấp, với sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tỉnh ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được nhiều kết quả có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Nghị quyết của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010. Nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006-2010 đã hoàn thành trong điều kiện rất khó khăn.
Trên cơ sở tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 4 năm 2006-2009 và dự kiến kế hoạch năm 2010, dự kiến kết quả thực hiện các chỉ tiêu  chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010; có 17 chỉ tiêu chủ yếu trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường; so sánh với mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, dự kiến có 12 chỉ tiêu có khả năng đạt và vượt kế hoạch 5 năm 2006-2010, cụ thể như sau:
TT    Chỉ tiêu    Đơn vị    TH 2001-2005    Mục tiêu 2006-2010    Ước TH năm 2010
1    Tốc độ tăng giá trị gia tăng(GDP)    %    9,05    12,5    11,11
-    Công nghiệp - Xây dựng    %    12,45    16,5    14,48
-    Dịch vụ    %    10,0    13,0    12
-    Nông, lâm nghiệp, thủy sản    %    4,55    5,5    4,23
2    Tổng giá trị gia tăng (giá ss 1994)    Tỷ đồng    3.757    6.770    6.381
3    Tổng giá trị gia tăng theo giá hiện hành    Tỷ đồng    6.458,9    14.522    19.816,2
4    GDP bình quân đầu người    Triệu đồng           
-    Giá thực tế    Triệu đồng    5,84    12,61    17,5
-    Quy đổi ra USD    USD    369,60    800    950
5    Cơ cấu kinh tế    %    100    100    100
-    Công nghiệp – Xây dựng    %    38,64    45    41,54
-    Dịch vụ    %    34,82    38,5    36,73
-    Nông, lâm nghiệp, thủy sản    %    26,54    16,5    21,73
6    Giá trị sản xuất công nghiệp    Tỷ đồng    5.000    13.515    12.200
-    Tốc độ tăng trưởng    %    12,40    22,0    18,3
7    Sản lượng lương thực có hạt    1000 tấn    378,5    450    419
-    Tốc độ tăng trưởng    %    2,60    4,0    1,11
-    Tr.đó sản lượng thóc    1000 tấn    323,8    380,0    333,6
8    Tổng số diện tích chè    Ha    16.500    19.500    17.663
-    Sản lượng chè búp tươi    Tấn    104.000    133.000    174,.800
-    Diện tích chè trồng mới, trồng lại    Ha    768    3.000    3.545
9    Diện tích trồng rừng mới tập trung    Ha    2.114    10.000    27.326
-    Trong đó: Địa phương trồng    Ha    1.652    7.500   
-    Độ che phủ của rừng    %    44,5    50    50
10    Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn    1000 USD    31,6    65    92
-    Tr.đó: Xuất khẩu địa phương    1000 USD    22    40    72,2
11    Thu ngân sách trên địa bàn    Tỷ đồng    526    1.200    2.200,8
12    Giải quyết việc làm mới    Lao động    12.064    75.000    78.550
13    Tỷ lệ hộ nghèo    %    26,85    14,35    10,8
-    Tốc độ giảm bình quân hàng năm    %    2,06    2,5    3,19
14    Mức giảm tỷ lệ sinh    %0    0,3    0,75    0,9
15    Dân số trung bình    1000 người    1.105,83    1.151,58    1.138
16    Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng    %    26    20    18,4
-    Tỷ lệ số hộ nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh    %    66    90    90
17    Tỷ lệ thất nghiệp    %           
-    Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị    %    5,32    3    4,5
-    Cơ cấu lao động ngành nông lâm thủy sản    %    72,2        66,5
B. KẾT QUẢ THỰC HIỆN TRÊN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
 I. Về phát triển kinh tế
1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế của tỉnh bình quân 5 năm 2006-2010 ước đạt 11,11%, trong đó:
- Tăng trưởng ngành công nghiệp và xây dựng bình quân 5 năm giai đoạn 2006-2010 dự ước tăng 14,91% ; trong đó năm 2007 có mức tăng trưởng cao nhất đạt 18,39%, năm 2009 do tác động của khủng hoảng kinh tế nên có mức tăng trưởng thấp đạt 11,7%.
- Tăng trưởng ngành dịch vụ bình quân 5 năm 2006-2010 đạt 11,86% , mức tăng trưởng của ngành tương đối ổn định, riêng năm 2009 có mức đạt thấp nhất là 10,06%.
- Ngành nông, lâm nghiệp có mức tăng trưởng và đóng góp cho tăng trưởng ở mức thấp nhất, bình quân 5 năm 2006-2010 tăng 4,14%,  thấp hơn bình quân giai đoạn 2001-2005.
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế 4 năm 2006-2009 và dự kiến kế hoạch năm 2010 cho thấy cơ cấu kinh tế của tỉnh đã chuyển dịch đúng hướng, đó là tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ; giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp trong GDP. Cụ thể năm 2005 cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp - xây dựng 38,71%; dịch vụ 35,08%; nông - lâm nghiệp - thuỷ sản 26,21%. Dự kiến kế hoạch năm 2010 cơ cấu kinh tế đạt được như sau: công nghiệp - Xây dựng 41,54%; Dịch vụ 36,73%, nông lâm nghiệp - thuỷ sản: 21,73 %
- Ngành công nghiệp - xây dựng có sự chuyển dịch đúng hướng, song tốc độ chuyển dịch còn chậm, năm 2006 là 38,76%, năm 2007 là 39,54%, năm 2008 là 39,78%, năm 2009 là 40,62%, dự kiến năm 2010 mới đạt 41,54% GDP chưa đạt mục tiêu đề ra là 45% GDP. Trong nội ngành công nghiệp, tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng từ 86,5% lên 88,11% (năm 2009) công nghiệp khai thác giảm, công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước có mức tăng tương đương với công nghiệp chế biến.
Ngành xây dựng của tỉnh mặc dù nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và đầu tư dân doanh tăng nhanh qua các năm, song mức độ đóng góp của ngành còn chưa tương xứng, mức đóng góp của ngành mới tương ứng khoảng 6% GDP; nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp trong ngành xây dựng của địa phương năng lực quản lý, tài chính còn hạn chế. Do vậy khi tham gia đấu thầu rộng rãi các gói thầu có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp thường đạt tỷ lệ trúng thầu thấp, do đó chủ yếu tham gia thi công các gói thầu có quy mô nhỏ, mức đóng góp cho tăng trưởng GDP còn đạt thấp
Về sản phẩm công nghiệp: các sản phẩm truyền thống như xi măng, sắt thép, sản phẩm may mặc, kim loại màu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giá trị sản xuất công nghiệp, các sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ cao có tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu giá trị sản xuất, công nghiệp chế tạo, lắp ráp điện tử, công nghiệp phụ trợ còn nhỏ bé. Cơ cấu ngành sản xuất chủ đạo vẫn là các ngành luyện kim, sản xuất vật liệu sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản, công nghiệp thâm dụng lao động, các ngành tạo ra giá trị gia tăng lớn, công nghiệp phụ trợ tận dụng lợi thế của tỉnh về lĩnh vực cơ khí chế tạo để phục vụ cho các nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy... còn nhỏ bé, chưa phát triển.
- Ngành thương mại - dịch vụ: tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 tăng 11,86% (mục tiêu đề ra là 13%/năm); chuyển dịch cơ cấu trong các năm 2006 đến 2009 từ 35,08% tăng lên 36,92%, năm 2010 dự kiến kế hoạch là 37,32%. Qua các năm, riêng có năm 2006 có mức chuyển dịch rõ nét, tăng 1,44 điểm % so với năm 2005, các năm tiếp theo có mức chuyển dịch không đáng kể; trong cơ cấu nội ngành, ngành thương mại - dịch vụ có xu hướng chuyển dịch nhanh tăng từ 16,4% GDP năm 2005 lên 18,35% GDP năm 2009, đặc biệt là các lĩnh vực thương mại, dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng, kinh doanh bất động sản có xu hướng tăng nhanh; lĩnh vực dịch vụ xã hội như giáo dục đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học có mức tăng về giá trị tuyệt đối, song chưa có chuyển biến rõ nét trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngành dịch vụ xã hội, y tế, giáo dục đào tạo có xu hướng chuyển dịch chậm, đặc biệt lĩnh vực giáo dục đào tạo trong giai đoạn 2005-2009 có xu hướng giảm (từ 7% GDP năm 2005 xuống còn 6,9% GDP năm 2009) điều này thể hiện Thái Nguyên chưa phát huy được lợi thế về phát triển giáo dục đào tạo với vai trò là trung tâm vùng, nguồn lực đầu tư cho phát triển của Trung ương và địa phương còn hạn chế.
- Ngành nông lâm nghiệp - thuỷ sản: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm khu vực này đạt 4,14%, thấp hơn mục tiêu đề ra (5,5%/năm). Cơ cấu kinh tế có mức giảm nhanh so với mức bình quân chung của cả nước, song chưa đạt mục tiêu đề ra. Năm 2006 đạt 24,75% GDP, năm 2009 giảm xuống còn 22,46% GDP, dự kiến kế hoạch năm 2010 đạt 21,73%. Nguyên nhân do chỉ số giá ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2006-2010 tăng nhanh hơn khu vực công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là năm 2008 có tốc độ trượt giá cao; về cơ cấu nội ngành chậm chuyển dịch do lĩnh vực chăn nuôi không ổn định, sản xuất theo hướng trang trại, chăn nuôi công nghiệp còn nhiều hạn chế.
Từ những phân tích trên cho thấy cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên đã có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tuy nhiên tốc độ chuyển dịch và chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản phẩm chưa đạt mục tiêu đề ra.
Về chuyển dịch cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế: qua phân tích số liệu về lực lượng lao động trong các ngành kinh tế thấy rằng, tốc chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp- xây dựng có mức tăng chậm từ 11,63% năm 2005 lên 14,53% năm 2009; lao động trong ngành dịch vụ có mức chuyển dịch chậm, tăng từ 16,9% năm 2005 lên 17,15% năm 2009, chủ yếu thuộc lĩnh vực thương mại, lưu trú, ăn uống đã tạo điều kiện thu hút và chuyển dịch lao động từ lĩnh vực nông lâm nghiệp. Ngành nông lâm nghiệp mặc dù mức đóng góp trong GDP không lớn, khoảng trên 1/5 GDP toàn tỉnh, song chiếm tỷ trọng lao động lớn (năm 2009 là 68,32%). Trong các năm qua, mặc dù đã có mức giảm về cơ cấu lao động, song mức giảm còn thấp, khoảng sấp sỉ 1%/năm, đây cũng là áp lực đối với tỉnh về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là đối với các vùng bị thu hồi đất sản xuất để đầu tư các công trình hạ tầng công cộng, khu đô thị, khu cụm công nghiệp.
2. Đánh giá tình hình phát triển các ngành, lĩnh vực
a. Công nghiệp - xây dựng
Trong 2 năm 2006-2007 giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng khu vực sản xuất công nghiệp và  xây dựng đạt kết quả khá. Sản phẩm công nghiệp phát triển đa dạng và phong phú hơn về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên giai đoạn này vẫn phát triển theo chiều rộng, chủ yếu là gia công, công nghiệp chế biến chủ yếu là sản phẩm thô, giá trị gia tăng thấp. Khu vực này cũng là khu vực chịu tác động nặng nề nhất của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nên từ cuối năm 2007 đã có xu hướng tăng trưởng chậm lại, có khoảng thời gian giảm sâu, đến giữa năm 2009 sản xuất công nghiệp và xây dựng mới có sự phục hồi khá nhanh, dự kiến năm 2010 tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiêp đạt 22%, bình quân 5 năm dự kiến đạt khoảng 18,7% không đạt mục tiêu đề ra (22%).
b. Dịch vụ
Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, mặc dù chịu ảnh hưởng chung từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng từ năm 2009 nhờ việc thực hiện có hiệu quả các chính sách kích cầu đầu tư, tiêu dùng của Chính phủ nên hoạt động thương mại, dịch vụ nội địa đã đạt được nhiều kết quả tốt.
Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội bình quân 5 năm 2006-2010 đạt 21%
c. Nông - lâm nghiệp - thuỷ sản
Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thiên tai, dịch bệnh,... ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2006-2010 đã phát triển với tốc độ khá, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp đạt 4,14 % mặc dù không đạt mục tiêu đề ra (tăng 5,5%), song trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp để phục vụ cho nhu cầu đô thị hoá, phát triển công nghiệp thì mức tăng trưởng trên là đáng khích lệ; đặc biệt ngành chăn nuôi có mức tăng trưởng khá, đạt bình quân trên 8%, chăn nuôi đã phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp tuy mức chuyển dịch cơ cấu nội ngành còn chưa rõ nét song bước đầu đã đem lại một số kết quả nhất định.
Kinh tế nông thôn và đời sống nhân dân đã được cải thiện hơn trước, việc tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng  nông thôn, đầu tư phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các khu cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp đã có tác động tích cực đến việc phát triển sản xuất, tạo việc làm và xoá đói giảm nghèo.
d. Phát triển doanh nghiệp
Tính đến hết tháng 10/2010, tổng số doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên khoảng 2.778 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký kinh doanh gần 15.497 tỷ đồng, chiếm 98,2% tổng số doanh nghiệp thuộc các loại hình trên địa bàn.
Tốc độ phát triển doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn tăng đều trong cùng kỳ giai đoạn 2006-2010 (tăng bình quân hàng năm từ 15-18%, mỗi năm thành lập mới từ 350-400 doanh nghiệp). Những năm gần đây đã xuất hiện một số doanh nghiệp với ngành nghề mới đang phát triển như chế biến sâu khoáng sản, lắp ráp ô tô, khu du lịch sinh thái, kinh doanh chợ, chứng khoán, bất động sản... đã bắt đầu mở ra lĩnh vực ngành nghề chuyên sâu có sức cạnh tranh trên thị trường.
Trong giai đoạn 2006-2010, các doanh nghiệp dân doanh tỉnh Thái Nguyên đang thay đổi về nhiều mặt và đã phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng nhất là xu hướng đầu tư nâng cao nội lực doanh nghiệp và phát triển các lĩnh vực hoạt động; các doanh nghiệp, doanh nhân đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình không những trong tỉnh, trong nước mà còn vươn ra thị trường quốc tế.
đ. Thu ngân sách đạt kết quả khá cao
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2006 đạt 845,3 tỷ đồng, chiếm 10,42% GDP và tăng 17% so với năm 2005, đến năm 2009 đạt 1.730.7 tỷ đồng, tăng 23,1% so với thực hiện năm 2008, tỷ lệ huy động vào ngân sách chiếm 10,48% GDP; năm 2010 ước đạt 2.200,8 tỷ đồng. Như vậy tổng thu ngân sách 4 năm từ 2006-2010 (năm 2010 dự ước) đạt trên 8.000 tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách không tăng do việc thực hiện các chính sách miễn giảm thuế và không đưa vào tổng thu ngân sách một số khoản thu, do vậy ảnh hưởng đến tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách nhà nước. Việc thu hút đầu tư, đặc biệt là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã bước đầu phát huy hiệu quả, tăng nguồn thu cho ngân sách.
e. Các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng và huy động vốn đầu tư
Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn dân cư và doanh nghiệp, vốn ngoài nhà nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  được thực hiện đầu tư vào phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn cụ thể như sau: năm 2006 đạt 4.723 tỷ đồng, đến năm ước đạt 2009 đạt 7.359,6 tỷ đồng, dự kiến kế hoạch năm 2010 ước đạt 9.123 tỷ đồng, tăng 16,1% so với năm 2009, tổng vốn huy động 5 năm ước đạt khoảng 33.513 tỷ đồng, hệ số ICOR bình quân 5 năm khoảng 3 lần (theo giá thực tế). Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội có nguồn vốn trong nước chiếm tỷ trọng cao, trong đó vốn thuộc ngân sách nhà nước chiếm khoảng 20%, vốn tự có của doanh nghiệp, vốn vay và vốn đầu tư của dân cư chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và có xu thế tăng dần qua các năm, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn đầu tư.
3. Phát triển các lĩnh vực xã hội
a.Về Giáo dục và Đào tạo
Trong những năm qua chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đạt tỷ lệ cao. Giáo dục mầm non phát triển tốt các loại hình; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và xoá mù chữ được duy trì và giữ vững; phổ cập trung học cơ sở tiếp tục được chỉ đạo một cách toàn diện. Công tác quản lý giáo dục - đào tạo từng bước được đổi mới, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chuyên môn, thi đua, kiểm tra chuyên đề và duy trì nề nếp, kỷ cương trong các đơn vị, tăng cường công tác kiểm tra các trường đạt chuẩn quốc gia, dự kiến đến hết năm 2010 toàn tỉnh có 340 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt mục tiêu đề ra là 50%. Việc chỉ đạo và tổ chức tốt các kỳ thi trên địa bàn, từng bước cải tiến công tác thi cử và tuyển sinh vào các cấp, đảm bảo an toàn, nghiêm túc, có tác dụng giáo dục cao, tạo được niềm tin trong nhân dân và xã hội. Cơ sở vật chất trường, lớp không ngừng được đầu tư nâng cấp.
b. Về y tế
Các cơ sở y tế nhà nước đã tổ chức tốt việc khám chữa bệnh, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhân dân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được đầu tư phục vụ tốt cho công tác khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục hoàn thiện và củng cố mạng lưới y tế cơ sở, dự ước đến hết năm 2010 đã có 136/180 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Các Chương trình y tế quốc gia trên địa bàn được triển khai theo đúng kế hoạch. Công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là phòng, chống dịch cúm gia cầm và dịch cúm A (H5N1), H1N1, dịch tiêu chảy cấp ở người trên địa bàn tỉnh được triển khai và duy trì thường xuyên. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các sai phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý hành nghề y dược tư nhân, về giá bán thuốc chữa bệnh cho người được thực hiện thường xuyên, qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời các cơ sở sai phạm.
c. Về công tác giảm nghèo
Đã triển khai đồng bộ các chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm và các chính sách xã hội: Tổ chức đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo trên cả 3 cấp tỉnh - huyện, xã và thôn bản. Thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo, đến hết năm 2009 tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống còn 13,99%, năm 2010 ước còn 10,8%. Từ năm 2006 đến năm 2009 và ước đến hết năm 2010 toàn tỉnh tạo việc làm mới cho 78.500 lao động, bình quân mỗi năm giải quyết được 15.660 việc làm mới, vượt mục tiêu đề ra; Công tác quản lý nhà nước về pháp luật lao động được chú trọng: thành lập Hội đồng trọng tài lao động của tỉnh, hội đồng hoà giải lao động cơ sở theo quy định của pháp luật, thường xuyên tập huấn, phổ biến Luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội cho các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh.
- Nâng cao đời sống vật chất đồng bào dân tộc thiểu số: từ năm 2006-2009 kinh phí được giao để thực hiện chương trình 135 và 134 là 289.349 triệu đồng (chưa bao gồm kinh phí quản lý các cấp), các công trình thiết yếu như điện, đường, trường, trạm được xây dựng khang trang hơn trước, là cơ sở để thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm chi phí vận chuyển hàng hoá, thúc đẩy phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập từng bước thoát nghèo, ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực 44 xã hưởng chương trình 135 giảm từ 49,76% (năm 2006) xuống  ưới 40% (năm 2009); trình độ dân trí được nâng lên, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường được duy trì ở mức cao (học sinh tiểu học >90%, học sinh THCS >70%...)
4. Về lĩnh vực tài nguyên môi trường và phát triển bền vững
Triển khai thực hiện chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên, đã đưa các nội dung phát triển bền vững, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vào các nội dung trong công tác quy hoạch, xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm, hàng năm.
Thực hiện tuyên truyền, phổ biến luật bảo vệ môi trường, thường niên tổ chức các hoạt động tuyên truyền bảo vệ môi trường, tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường. Tăng cường công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường từ khâu thẩm định ĐTM các dự án đầu tư đến triển khai thực hiện dự án. Tăng cường công tác thanh, kiểm tra giải quyết khiếu nại tố cáo, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT. Thực hiện có hiệu quả Dự án: “Nâng cao năng lực quan trắc môi trường và quản lý chất thải rắn thành phố Thái Nguyên”, tiếp tục triển khai hợp phần “Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo” trong khuôn khổ chương trình hợp tác phát triển Việt nam - Đan Mạch.
Ngăn chặn có hiệu quả tình trạng khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép, từng bước đưa hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản vào nề nếp, phục vụ cho phát triển kinh tế của tỉnh.
C. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT
I. Những kết quả nổi bật
1. Duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế, sản xuất kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực tiếp tục phát triển
Tốc độ tăng trưởng kinh tế dự kiến bình quân 5 năm đạt khoảng 11,11% không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là 12-13%; cao hơn bình quân giai đoạn 5 năm 2001-2005 (9,14%), trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 14,91% (kế hoạch là 16,5%); khu vực dịch vụ đạt 11,86% (kế hoạch là 13%); khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 4,14% (kế hoạch là 5,5%). Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 khó khăn nhiều hơn so với giai đoạn 5 năm trước, như vậy các kết quả đạt được này là rất đáng khích lệ. Các năm 2006-2007 tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đạt xấp xỉ mục tiêu đề ra; các năm 2008-2010 chịu tác động lớn của khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế và khó khăn nội tại của nền kinh tế cả nước và của tỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 vẫn đạt 11,47%, năm 2009 ước đạt 9,1%, năm 2010 dự kiến đạt khoảng trên 11%.
GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2010 dự kiến đạt khoảng 17,5 triệu đồng/người, tương đương khoảng 950 USD/người, tuy đã đạt mục tiêu đề ra, song mới chỉ bằng 79% so với bình quân của cả nước. Quy mô giá trị gia tăng các ngành kinh tế năm 2010 theo giá so sánh năm 2010 gấp 2,62 lần so với năm 2000.
Các ngành, lĩnh vực công nghiệp - xây dựng; dịch vụ; nông lâm nghiệp, thủy sản đều có bước phát triển. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, bảo đảm an ninh lương thực. Tăng trưởng khu vực dịch vụ xấp xỉ mục tiêu đề ra, ngành công nghiệp mặc dù chịu tác động lớn của suy thoái kinh tế song vẫn duy trì được mức tăng trưởng và đang từng bước phát triển.
2. Huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư phát triển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Những kết quả đổi mới cơ chế chính sách, cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư đã tạo điều kiện để huy động được nguồn vốn đầu tư khá lớn đầu tư phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong 5 năm  vốn đầu tư của nhà nước (cả Trung ương và địa phương) thực hiện trên địa bàn đạt khoảng trên 4.000 tỷ đồng nhưng đã huy động nguồn vốn của các thành phần kinh tế và toàn xã hội đạt 32.639 tỷ đồng, bình quân trên 6.500 tỷ đồng/năm.
3. Các lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và công tác an sinh xã hội được đặc biệt quan tâm và có nhiều tiến bộ
Nâng cao chất lượng giáo dục đào tại và khoa học công nghệ tiếp tục được quan tâm trong giai đoạn này. Công tác an sinh xã hội đặc biệt được coi trọng, trong giai đoạn này đã triển khai thực hiện được nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, những người có thu nhập thấp, đối tượng chính sách… Nhờ đó tình hình xã hội, đời sống người dân được ổn định, tỷ lệ nghèo đói dự kiến đến năm 2010 giảm xuống khoảng 11,5%, vượt kế hoạch đề ra, thu nhập, mức sống dân cư ngày càng được cải thiện.
4. Cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng có chuyển biến tích cực
Cải cách thủ tục hành chính đã có chuyển biến căn bản. Tiến hành thống kê, rà soát, đơn giản hóa được các thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn vướng mắc, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.  Tỉnh đã thực hiện công bố các bộ thủ tục hành chính giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, tra cứu. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính các cấp đã có chuyển biến đáng kể, cùng với sự phân cấp của Trung ương cho địa phương, tỉnh đã thực hiện phân cấp mạnh trên tất cả các lĩnh vực cho các cấp  chính quyền địa phương. Công tác kiểm tra, giám sát của các ngành các cấp được đẩy mạnh đã góp phần thực hiện tốt các chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng.
5. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý, bảo đảm trật tự an toàn giao thông đã đạt được những kết quả nhất định.
Đạt được những thành tựu trên đây là nhờ định hướng đúng đắn của Đảng về đường lối đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự quyết tâm và thống nhất cao của Đảng bộ, chính quyền và sự chỉ đạo quyết liệt, tập trung của UBND tỉnh; sự nỗ lực của các ngành các cấp, các doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tạo nên sức mạnh tổng hợp phấn đấu thực hiện tốt nhất các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 đã đề ra.
II. Những tồn tại yếu kém và nguyên nhân
1. Những tồn tại, yếu kém
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trên đây, trong giai đoạn 2006-2010 tỉnh ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là tác động tiêu cực của cuộc khủng khoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế cả nước nói chung và kinh tế Thái Nguyên nói riêng trong các năm cuối kế hoạch 5 năm 2006-2010, dẫn đến:
a. Một số chỉ tiêu không đạt kế hoạch đề ra
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và những yếu tố nội sinh của nền kinh tế, một số chỉ tiêu kế hoạch không đạt kế hoạch đề ra, trong đó khu vực sản xuất công nghiệp chịu tác động trực tiếp, dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch; một số chỉ tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường đạt ở mức thấp.
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra
Cơ cấu kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng cơ cấu kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực không đạt kế hoạch đề ra. Chưa có sự gắn kết giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành với chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Cơ cấu mặc dù đã chuyển dịch theo hướng tích cực song còn có sự khác biệt giữa các vùng tạo nên sự chênh lệch giàu nghèo, mức sống giữa các vùng.
c. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển còn thấp
Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển còn thấp; các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực sản xuất tiến độ triển khai còn rất chậm, đặc biệt nhiều dự án được chấp thuận đầu tư nhưng chậm triển khai hoặc không triển khai đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của nhân dân vùng có dự án.
d. Chất lượng nguồn nhân lực chưa được cải thiện đáng kể, trình độ khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn ở mức trung bình; tạo việc làm, công tác xoá đói giảm nghèo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân còn nhiều hạn chế
Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu phát triển đất nước, công tác giáo dục - đào tạo chưa thực sự gắn kết với sử dụng lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn chưa tương xứng với vị trí là trung tâm vùng về đào tạo.
Khoa học công nghệ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được thế mạnh của khoa học công nghệ trong phát triển và nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm trong tỉnh đối với nền kinh tế.
Công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận, nhưng tình trạng tái nghèo vẫn còn tồn tại, chất lượng giảm nghèo chưa bền vững; chất lượng công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là ở tuyến xã còn thấp; vệ sinh an toàn chưa được bảo đảm.
e. Công tác bảo vệ tài nguyên môi trường còn bất cập
Công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản còn bất cập, tình trạng khai thác, vận chuyển trái phép tài nguyên khoáng sản vẫn còn tồn tại.; Nhận thức về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững của các ngành, các cấp và nhân dân còn chưa đầy đủ, ý thức bảo vệ môi trường, đặc biệt là của các doanh nghiệp nhìn chung còn thấp. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị, bệnh viện chưa được giải quyết dứt điểm, trong khi các thảm họa thiên tai và diễn biến thay đổi khí hậu toàn cầu đang tăng nhanh, đang gây những áp lực cho việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Hệ thống kiểm tra, giám sát các hoạt động về tài nguyên, môi trường chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa có chế tài xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong hoạt động tài nguyên, môi trường.
2. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân khách quan
Do những tác động khó lường từ bên ngoài, đặc biệt là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; tình hình thiên tai, dịch bệnh xẩy ra ảnh hưởng lớn đến các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có nước ta. Do vậy cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.
b. Nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng trực tiếp
Môi trường đầu tư mặc dù đã được cải thiện, song vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập, gây khó khăn cho nhà đầu tư và người dân. Chất lượng thu hút đầu tư vào tỉnh còn nhiều hạn chế, một số dự án đầu tư chậm triển khai thực hiện nhưng chưa có chế tài xử lý làm ảnh hưởng đến việc thu hút các dự án đầu tư của các nhà đầu tư có đủ năng lực triển khai thực hiện.
Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của của một số ngành và cấp chưa quyết liệt, đồng bộ dẫn tới hiệu quả thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội còn hạn chế.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều, năng lực còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu  ngày càng cao cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Công tác xã hội hoá đã được triển khai song còn chậm, chưa thật sự khuyến khích các nhà đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội.
Công tác quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực, quy hoạch đô thị còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.
    III. Một số bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2006-2010, rút ra một số kinh nghiệm chung về sự lãnh đạo, công tác điều hành trên địa bàn tỉnh như sau:
1- Thường xuyên làm tốt công tác xây dựng bộ máy trong sạch vững mạnh, phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, sự điều hành quyết liệt, năng động sát tình hình và hiệu quả của các cấp chính quyền, phát huy sức mạnh  đại đoàn kết và sức mạnh đồng thuận trong nhân dân. Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có trách nhiệm, thạo việc, tận tụy; bố trí, sắp xếp và sử dụng cán bộ phải kịp thời, hợp lý, đúng người, đúng việc.
2- Kịp thời tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội X của Đảng và các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương. Vận dụng sáng tạo, linh hoạt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các Bộ, Ban, ngành Trung ương và phát huy lợi thế của tỉnh, đề ra các cơ chế, chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Hàng năm đều xác định rõ chủ đề để tập trung điều hành thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội theo hướng trọng tâm, trọng điểm.
3- Coi trọng kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
4- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước; tạo điều kiện để đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp và các thành phần kinh tế tích cực đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
5- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các cấp ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị về tầm quan trọng của công tác đối ngoại, về hội nhập quốc tế; đồng thời đẩy mạnh hoạt động công tác ngoại giao, hợp tác quốc tế; hợp tác, thường xuyên giữ mối quan hệ tốt với các tỉnh trong vùng; từng bước chủ động hội nhập phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Thái Nguyên trong nước và quốc tế với tinh thần đoàn kết, hữu nghị và hợp tác phát triển.

Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2011-2015
I. NHỮNG THUẬN LỢI, CƠ HỘI VÀ KHÓ KHĂN THÁCH THỨC CỦA NỀN KINH TẾ TRONG BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI

1. Thuận lợi, cơ hội
Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế quốc tế. Nền kinh tế sẽ thoát khỏi khủng hoảng, suy thoái và từng bước phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng. Quá trình hội nhập sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận nhanh hơn, dễ dàng hơn với thị trường thế giới và khu vực. Ở trong nước các thể chế kinh tế dần được hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển; kết cấu hạ tầng kinh tế, đặc biệt là hệ thống giao thông đối ngoại như tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, đường Quốc lộ 3, Quốc lộ 37... được đầu tư và phát huy hiệu quả sẽ mang lại nhiều cơ hội cho Thái Nguyên mở rộng mối quan hệ đối ngoại với bên ngoài; sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển công nghiệp, khu công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía bắc và thủ đô Hà Nội có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên.
2. Những khó khăn, thách thức
Ngoài những thuận lợi nói trên, tỉnh ta cũng gặp phải những khó khăn thách thức đó là, đồng thời với việc tiếp cận thị trường thế giới Việt Nam cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của thị trường thế giới. Khủng hoảng kinh tế thế giới cũng tác động mạnh mẽ đến kinh tế Việt Nam và trong bối cảnh chung, Thái Nguyên cũng chịu những tác động những tác động không nhỏ.
Nổi lên hàng đầu là áp lực của việc nâng cao năng lực và duy trì năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trên thị trường trong nước và thế giới; yêu cầu cấp bách thoát khỏi tình trạng nước nghèo, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế so với các nước trong khu vực, đòi hỏi phải tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nhanh, trong đó trọng tâm là làm thay đổi khu vực nông nghiệp, nông thôn.
3. Quan điểm phát triển
 Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, xuất phát từ tình hình thực tế, tiềm năng, lợi thế và thực trạng phát triển kinh tế của tỉnh giai đoạn 2006-2010 có thể xác định quan điểm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015 như sau:
- Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên trong thế chủ động hội nhập và cạnh tranh quốc tế, trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, trong sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh trong vùng trung du miền núi Bắc Bộ và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, bảo đảm thu hẹp dần về khoảng cách giữa Thái Nguyên với mức bình quân chung của cả nước, nâng cao vị thế của Thái Nguyên, phấn đấu đưa Thái Nguyên trở thành là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, đào tạo của cả nước. 
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần, huy động mọi nguồn lực, tạo động lực phát triển với tốc độ nhanh, hiệu quả và bền vững, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thúc đẩy phát triển nhanh khu vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch, thương mại, giáo dục, y tế, tài chính; phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế tại các khu cụm công nghiệp như công nghiệp khai khoáng, luyện kim, cơ khí, công nghiệp phụ trợ, sản xuất vật liệu xây dựng; xây dựng một nền nông nghiệp đa dạng gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh thái.
- Đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa, phát triển mạng lưới đô thị và điểm dân cư tập trung theo hướng hiện đại, gắn với vành đai nông thôn, nông nghiệp - nông thôn phát triển theo hướng văn minh, bảo tồn được các giá trị văn hóa làng bản.
- Phát triển kinh tế kết hợp với phát triển xã hội, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững.
- Kết hợp đồng bộ giữa phát triển sản xuất với phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh, củng cố hệ thống chính trị và nền hành chính vững mạnh.
II. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2020 tỉnh ta trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, đào tạo của cả nước.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
Nhằm đạt được các mục tiêu tổng quát như trên, trong giai đoạn 2011-2015 cần tập trung vào các nhiệm vụ quan trọng, trước hết tập trung vào các nhiệm vụ chính như: cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển nguồn nhân lực và phát triển kết cấu hạ tầng, cụ thể là:
- Tiếp tục thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư để nâng cao thương hiệu, quảng bá hình ảnh địa phương để thu hút đầu tư đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thiện hệ thống dạy nghề, trường nghề của tỉnh, các huyện thành phố, thị xã, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở tất cả các cấp học, ngành học; tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo có tay nghề cao,...
- Phát triển mạnh mẽ hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng các khu, cụm công nghiệp,...
- Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về "nông nghiệp, nông dân, nông thôn". Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và từng sản phẩm trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Đẩy mạnh phát triển và chuyển giao công nghệ; khuyến khích phát triển công nghệ cao trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và quản lý hành chính.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế, nhằm phát huy được các nguồn lực của địa phương, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống, sức khoẻ nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội; ngăn chặn và đẩy lùi dần các tệ nạn xã hội. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; phát triển thể dục thể thao để tăng cường sức khoẻ thể chất và tinh thần của nhân dân.
- Sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tăng cường công tác bảo vệ và cải thiện môi trường. Chủ động phòng tránh và hạn chế các tác động xấu của thiên tai.
3. Các chỉ tiêu chủ yếu
3.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân hàng năm từ 12-13%; trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng 16,5 %; dịch vụ tăng 13,5%; nông lâm nghiệp tăng 4,5%.
3.2. Cơ cấu kinh tế được hình thành theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ, công nghiệp - xây dựng. dự kiến mục tiêu đến năm 2015 cơ cấu kinh tế của tỉnh đạt được như sau: công nghiệp - xây dựng 46,5%; dịch vụ 38,5%, nông lâm nghiệp 15%;
3.3. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 20% trở lên;
3.4. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 6% trở lên;
3.5. Phát triển mạnh kinh tế đối ngoại, hình thành một số sản phẩm xuất khẩu chủ lực, phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 200 triệu USD, đảm bảo tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2011-2015 bình quân đạt 20%;
3.6. Phấn đấu tốc độ phát triển doanh nghiệp tăng bình quân hàng năm 20% trở lên (thành lập mới khoảng 500 - 600 doanh nghiệp/năm).
3.7. Thu ngân sách nhà nước bình quân hàng năm tăng 20% trở lên (không bao gồm thu cấp quyền sử dụng đất), đến năm 2015 đạt trên 6.000 tỷ đồng.
3.8. GDP/người tính theo giá thực tế 45 triệu đồng, tương đương 2.100 USD (giá thực tế dự báo năm 2015 là 1 USD =22.000 đồng).
3.9. Giải quyết việc làm mới bình quân hàng năm cho 15.000 lao động/năm trong giai đoạn 2011-2015. Tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế đã qua đào tạo đạt khoảng trên 55% vào năm 2015.
3.10. Phấn đấu đến năm 2015 có 20% xã  đạt tiêu chí nông thôn mới.
3.11. Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm 2% trở lên (theo chuẩn mới). Thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, các tầng lớp dân cư trong việc hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản.
3.12. Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, bảo đảm kiên cố hoá toàn bộ trường lớp học. Phấn đấu đến năm 2015 có 70% số trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó: mầm non 65%; tiểu học 100%, trung học cơ sở 50%, trung học phổ thông 20%).
3.13. Phấn đấu đến năm 2015 có 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống còn dưới 14%; giảm tỷ suất sinh thô hàng năm 0,1%0
3.14. Cải thiện một bước về kết cấu hạ tầng bao gồm mạng lưới giao thông, điện lưới, cấp nước sinh hoạt. Nâng tỷ lệ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh ở nông thôn lên 95%.
3.15. Bảo đảm an toàn xã hội, giảm tối đa các tệ nạn xã hội, nhất là việc sử dụng ma tuý.
3.16. Nâng cao chất lượng độ che phủ rừng, ổn định độ che phủ rừng trên địa bàn đạt trên 50%.
3.17. Xây dựng hệ thống thu gom và xử lý rác thải; bảo đảm sử dụng công nghệ sản xuất sạch trong hoạt động công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.
3.18. Đảm bảo an ninh trật tự xã hội và công tác quân sự địa phương và hoàn thành 100% các chỉ tiêu đề ra.
III. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU
1. Phát triển kinh tế nhanh và bền vững
1.1.Xây dựng cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển
Bổ sung và dần hoàn thiện các cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường. bảo đảm cho các thành phần kinh tế bình đẳng phát triển sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trong đó, ưu tiên phát triển các lĩnh vực tài chính tín dụng, lao động việc làm, khoa học công nghệ, bất động sản,... gắn kết doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, các trường đại học nhằm phát huy hiệu quả năng lực về nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao và ứng dụng những thành quả công nghệ mới vào sản xuất. huy động vốn và các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng công nghiệp, thương mại, dịch vụ,...
Tập trung huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, theo hướng giảm dần đầu tư công, tăng dần tỷ lệ đầu tư từ các thành phần kinh tế. Phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ đầu tư từ ngân sách nhà nước chỉ còn 20%.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nhất là đầu tư ứng dụng công nghệ cao trong các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến nông lâm sản. Tiếp tục phát triển các sản phẩm thế mạnh của tỉnh như luyện kim, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng,... Thu hút và phát triển nguồn nhân lực, trong đó chú trọng đào tạo nghề cho nông dân, nhất là đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để phục vụ phát triển công nghiệp và đô thị.
1.2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Phát triển công nghiệp đa ngành, đa lĩnh vực, chú trọng chất lượng tăng trưởng; khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Thường xuyên rà soát, điều chỉnh, xây dựng các cơ chế phát triển ngành, chính sách ưu đãi đầu tư cho phù hợp với từng thời kỳ, điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp. Quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ về vốn, công nghệ thông tin,... Đặc biệt là đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề,... sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên đất phục vụ các dự án công nghiệp. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm đạt 20% trở lên.
Từng bước chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên một số lĩnh vực: cơ khí chế tạo, lắp ráp; công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng,... Phát triển công nghiệp gắn với phát triển dịch vụ. Tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp nói chung, nhất là sản phẩm công nghiệp có lợi thế.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến khoáng sản, nông, lâm sản, gắn chế biến với vùng nguyên liệu tập trung; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến trong khai thác, chế biến, bảo quản và lưu thông sản phẩm.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho lĩnh vực công nghiệp. Xây dựng và thực hiện tốt chương trình phát triển công nghiệp, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp với đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ và bảo vệ môi trường. Thực hiện tốt việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung và quản lý quy hoạch các khu, cụm, điểm công nghiệp của tỉnh đến năm 2020. Tạo quỹ đất sạch để thu hút đầu tư. Đổi mới nội dung, nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công và xúc tiến thương mại.
- Phát triển lĩnh vực dịch vụ, nhất là dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng
Phát triển dịch vụ theo hướng đa dạng và nâng cao chất lượng hoạt động với nhiều thành phần kinh tế tham gia đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng thương mại theo quy hoạch. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tăng bình quân hàng năm 25%; giá trị sản xuất các ngành dịch vụ bình quân hàng năm tăng 16%.
Triển khai có hiệu quả các chính sách phát triển thương mại trên địa bàn, trong đó, tiếp tục phát triển mạng lưới chợ, nhất là chợ đầu mối, chợ nông thôn để phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, chú trọng mở rộng thị trường nội địa; có cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng hàng hoá sản xuất trong nước. Tăng cường công tác quản lý thị tr¬ường, thực hiện tốt kiểm tra, kiểm soát, phòng, chống và xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại.
Đẩy mạnh và khuyến khích xuất khẩu, đặc biệt là những mặt hàng có thế mạnh, sản phẩm mới, qua chế biến, có hàm lượng công nghệ cao; giảm mạnh xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản và sản phẩm thô. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị trên địa bàn tích cực tham gia vào hoạt động xuất khẩu của tỉnh. Phấn đấu giá trị xuất khẩu bình quân hàng năm tăng 20%.
Tập trung phát triển ngành du lịch, nhất là du lịch sinh thái và du lịch văn hoá lịch sử. Đẩy mạnh xã hội hoá phát triển du lịch, liên kết, xúc tiến với các tỉnh lân cận để hình thành các tua, tuyến du lịch liên hoàn. Có cơ chế khuyến khích để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch. Tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác du lịch. Phấn đấu doanh thu du lịch tăng bình quân hàng năm 25%.
Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ vận tải, phục vụ nhu cầu vận tải hàng hoá, hành khách dân cư. Phát triển nhanh, đa dạng hoá, khai thác có hiệu quả các loại hình dịch vụ bưu chính - viễn thông nhằm cung cấp cho người sử dụng với chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống.
Phấn đấu thu ngân sách Nhà nước tăng bình quân hàng năm 20%; và đến năm 2015 cơ bản đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên. Thực hiện tốt các chính sách thúc đẩy sản xuất, kinh doanh nhằm phát triển nguồn thu gắn với chống thất thu ngân sách. Thực hiện tốt chính sách tiền tệ, phát triển thị trường tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp
Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững. Xây dựng nông thôn mới có kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối đồng bộ; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng 1,8-2 lần so với năm 2010. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao năng suất, chất lượng để duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 4,5%.
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, phấn đấu đến năm 2015 giá trị sản phẩm đạt trên 85 triệu đồng/ha đất nông nghiệp trồng trọt. Quản lý tốt diện tích đất trồng lúa theo quy hoạch. Tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ chế biến sau thu hoạch. Chuyển đổi diện tích chè bằng các giống mới theo hướng tạo vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến. Phát triển trồng rau an toàn, hoa, cây cảnh.
Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học gắn với tổ chức giết mổ tập trung, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Phấn đấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân hàng năm trên 9%, đến năm 2015 chiếm trên 37% trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Quản lý, khai thác có hiệu quả diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản. Phát triển các loại thủy sản phù hợp điều kiện địa phương.
Thực hiện tốt công tác quy hoạch, quản lý bảo vệ và phát triển rừng, trong đó chú trọng cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ để người dân có thể sống, làm giàu từ trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Tăng cường đầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi. Củng cố hệ thống đê, kè chống lũ, chống sạt lở; quản lý, khai thác tốt các công trình thuỷ lợi; có giải pháp đồng bộ chủ động phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai.
Thực hiện tốt công tác cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn. Phát triển hệ thống dịch vụ, kỹ thuật nông, lâm nghiệp. Tăng cường củng cố các thành phần kinh tế và ngành nghề ở nông thôn, khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã, hộ gia đình và kinh tế trang trại. Thực hiện tốt công tác thông tin dự báo thị trường, tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp. Thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ 4 nhà (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước) và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn.
- Phát triển doanh nghiệp
Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá và sản phẩm có tính đặc thù địa phương, thâm nhập vào những thị trường mà Việt Nam đã cam kết mở cửa; nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường trong nước, trước khi mở cửa thị trường cho nước ngoài; tranh thủ cơ hội để liên doanh, liên kết, tìm kiếm đối tác đầu tư, tăng quy mô doanh nghiệp; đổi mới thiết bị, nâng cao năng suất và đổi mới phương thức quản lý, kinh doanh để năng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời phải đào tạo đội ngũ cán bộ giỏi cả về nghiệp vụ chuyên môn và khả năng tiếp cận thị trường.
Tiếp tục hoàn thiện và tăng cường cải cách hành chính, tạo thuận lợi về môi trường đầu tư và thu hút đầu tư từ mọi nguồn lực, ban hành các quy định, quy chế cụ thể đáp ứng yêu cầu quản lý và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong các thủ tục ra nhập thị trường, cấp phép, triển khai các dự án đầu tư,... khuyến khích các doanh nghiệp cùng nhà nước cùng tham gia vào xây dựng cơ chế, chính sách. Tăng cường vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước trong phát triển kinh tế, đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dân doanh và các thành phần kinh tế khác cùng tham gia trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh.
Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp; đẩy nhanh việc thực hiện các chương trình hỗ trợ, phổ biến ứng dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến tới các doanh nghiệp; nâng cao năng lực quản lý kỹ thuật và quản lý doanh nghiệp thông qua các chương trình đào tạo doanh nghiệp. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức trên các kênh thông tin đại chúng nhằm phổ biến sâu, rộng tới mọi đối tượng, mọi doanh nghiệp.
Tăng cường vai trò, chất lượng hoạt động của các hội, các câu lạc bộ doanh nghiệp trong tương trợ phát triển hoạt động của các hội viên doanh nghiệp; các tổ chức xã hội như Công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ trong doanh nghiệp nhằm cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh, bảo đảm quyền và lợi ích của hội viên, đóng góp ý kiến giúp các nhà quản lý doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản lý và điều hành doanh nghiệp.
2. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển đô thị theo hướng hiện đại
Thực hiện tốt công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và bồi thường giải phóng mặt bằng; kết hợp đồng bộ giữa đầu tư của Nhà nước và của các thành phần kinh tế tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong đó, chú trọng phát triển nhanh kết cấu hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, các khu, cụm công nghiệp, thương mại, du lịch, giáo dục, y tế. Tập trung các nguồn lực đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm, phát huy tác dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế.
Hiện đại hóa bưu chính - viễn thông, tăng cường đầu tư hệ thống thông tin liên lạc đồng bộ và hiện đại. Hoàn chỉnh mạng lưới cấp điện, đảm bảo nhu cầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Nâng cao chất lượng điện ở nông thôn, phấn đấu đến năm 2015, cơ bản các xóm trong tỉnh được dùng điện. Xây dựng hệ thống cấp, thoát nước và xử lý ô nhiễm môi trường. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án “Thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên”.
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển đô thị theo hướng hiện đại: đẩy mạnh công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, huy động vốn và các nguồn lực xã hội đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Lập và thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống đô thị trên địa bàn theo định hướng phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục đầu tư, chỉnh trang xây dựng thành phố Thái Nguyên hoàn thiện các tiêu chí của đô thị loại I để xứng tầm là trung tâm đô thị của vùng trung du miền núi Bắc Bộ; xây dựng thị xã Sông Công theo các tiêu chí của đô thị loại III; từng bước xây dựng huyện Phổ Yên trở thành thị xã công nghiệp. Quy hoạch, phát triển hệ thống đô thị vừa và nhỏ; hỗ trợ các huyện trong quy hoạch thị trấn, thị tứ và các điểm dân cư nông thôn. Từng bước xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp, nhà ở cho công nhân; đầu tư nâng cấp mạng lưới giao thông trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, cải tạo nâng cấp Quốc lộ 3.
Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị trên địa bàn theo hướng văn minh, hiện đại. Xây dựng hệ thống đô thị vừa và nhỏ trên cơ sở nâng cấp các thị trấn, thị tứ, các khu tập trung đông dân cư, các khu, cụm công nghiệp của tỉnh. Chú trọng phát triển đô thị nông thôn theo quy hoạch. Phấn đấu đến 2015 tỷ lệ dân cư sống ở đô thị đạt 35%.
 3. Phát triển văn hoá - xã hội
3.1. Đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo
Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2015 và các chương trình, đề án nhằm tạo bước phát triển mới trong giáo dục - đào tạo. Tiếp tục thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực trong giáo dục và đào tạo để thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
 Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở tất cả các cấp học, ngành học. Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động, từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối trong cơ cấu giáo dục, đào tạo. Triển khai thực hiện đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010-2015; chú trọng chất lượng giáo dục thường xuyên; củng cố vững chắc, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Thực hiện tốt việc phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, phấn đấu từng bước đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục bậc trung học.
Đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp học, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động dạy và học trong các nhà trường. Phấn đấu đến năm 2015 có 70% số trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó: mầm non 65%, tiểu học 100%, trung học cơ sở 50%, trung học phổ thông 20%). Tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn.
3.2. Thực hiện tốt các chính sách xã hội
Thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, tạo việc làm và tự tạo việc làm cho người lao động. Xây dựng kế hoạch phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường lao động, mạng lưới các tổ chức giới thiệu việc làm, các hình thức thông tin thị trường lao động trong và ngoài nước đến với mọi người dân. Tập trung phát triển mạnh quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo nghề; đẩy mạnh đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn và nông dân ở những nơi chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Tăng cường công tác quản lý hoạt động xuất khẩu lao động và nâng cao chất lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài. Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo đạt 55%.
Thực hiện tốt xã hội hoá công tác giảm nghèo. Nâng cao nhận thức, năng lực của các cấp, ngành, tổ chức và người dân về giảm nghèo. Huy động các nguồn lực xã hội trong thực hiện chương trình giảm nghèo; ưu tiên đầu tư tập trung cho các địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao. Tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thông qua các chính sách về y tế, giáo dục, nhà ở, đất ở, hạ tầng phục vụ dân sinh. Phấn đấu bình quân hàng năm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2% trở lên (theo chuẩn mới).
Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách ưu đãi, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người có công. Duy trì 100% xã, phường, thị trấn làm tốt công tác thương binh liệt sỹ, người có công.
 Tăng cường các hoạt động bảo trợ, trợ giúp xã hội. Tạo môi trường thuận lợi để thực hiện toàn diện quyền trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và bình đẳng giới. Đẩy mạnh công tác phòng, chống tệ nạn xã hội, tiến tới ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tệ nạn ma tuý, mại dâm và lây nhiễm HIV.
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, công tác tôn giáo. Đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số. Thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo, tạo điều kiện cho các tôn giáo hợp pháp hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Động viên đồng bào tôn giáo nêu cao tinh thần yêu nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3.3. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế. Khuyến khích các cơ sở y tế đầu tư đổi mới, ứng dụng các thiết bị công nghệ, nhất là các thiết bị có trình độ kỹ thuật cao vào khám, chữa bệnh cho nhân dân. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng nâng cấp các cơ sở y tế, nhất là y tế tuyến cơ sở.
Tiếp tục củng cố, phát triển mạng lưới y tế cơ sở; tập trung đầu tư phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Duy trì và nâng cao chất lượng 100% xã chuẩn quốc gia về y tế.
Quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác y tế; có cơ chế, chính sách đãi ngộ cho cán bộ y tế, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Mở rộng bảo hiểm y tế tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2015. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hành nghề y dược tư nhân và các dịch vụ phân phối thuốc chữa bệnh trên địa bàn.
Chú trọng công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân và chủ động làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh không để xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn.
Thực hiện tốt các chính sách về dân số, kế hoạch hoá gia đình nhằm nâng cao chất lượng dân số; phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 14% vào năm 2015.
3.4. Phát triển văn hoá, thể dục thể thao, thông tin tuyên truyền
Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Làm tốt công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá, cách mạng trên địa bàn gắn với phát triển du lịch.
Triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng Cuộc vận động“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”; đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá cơ sở và môi trường văn hoá lành mạnh; phấn đấu đến năm 2015 có 85% gia đình văn hóa, 60% làng bản văn hóa, 85% cơ quan văn hóa.
Thực hiện tốt xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá, thể dục thể thao để huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, thể dục thể thao, các khu vui chơi giải trí, nhất là khu vui chơi cho trẻ em. Phát triển mạnh các phong trào thể dục thể thao quần chúng; làm tốt công tác giáo dục thể chất trong các trường học; quan tâm phát triển thể thao thành tích cao.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá, thông tin. Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động thông tin báo chí, phát thanh truyền hình, đáp ứng nhu cầu về thông tin ngày càng cao của nhân dân. Tuyên truyền phổ biến kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân, góp phần định hướng dư luận xã hội.
3.5. Đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ
Triển khai có hiệu quả phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học - công nghệ giai đoạn 2011 - 2015. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo bước chuyển biến về chất trong hoạt động khoa học công nghệ. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, nâng dần tỷ trọng đóng góp của khoa học và công nghệ trong tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực và sản phẩm.
Tập trung phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ. Coi trọng phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trong công tác lãnh đạo và quản lý. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Có cơ chế, chính sách sử dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học. Đẩy mạnh xã hội hoá, huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học công nghệ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
3.6. Công tác quản lý và bảo vệ môi trường
Thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia. Gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, đơn vị. Khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến về tác hại của ô nhiễm môi trường, tác động của biến đổi khí hậu, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của từng cá nhân và toàn xã hội về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường đối với yêu cầu phát triển bền vững. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên trách bảo vệ môi trường; kiên quyết xử lý đối những tổ chức, cá nhân vi phạm Luật Bảo vệ môi trường.
4. Tăng cường quốc phòng - an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội
4.1. Công tác quốc phòng, quân sự địa phương
 Cấp uỷ các cấp cần quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Trung ương, Quân khu 1 và của Tỉnh uỷ về nhiệm vụ quốc phòng quân sự địa phương. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Quan tâm quy hoạch, xây dựng, quản lý, bảo vệ các công trình quốc phòng và công trình phòng thủ dân sự. Xây dựng, củng cố khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc.
Triển khai có hiệu quả Đề án “Xây dựng căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương trong khu vực phòng thủ tỉnh”. Tiếp tục chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tổ chức luyện tập, diễn tập các phương án tác chiến nâng cao trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương.
Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đủ về số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác động viên, tuyển quân, đảm bảo sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.
4.2. Công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân trong công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện trong nội bộ nhân dân. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, dân tộc, phòng chống các hoạt động mê tín, dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của đất nước. Giải quyết tốt các vấn đề dân tộc, tôn giáo, không để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại an ninh trật tự.

Phần thứ ba
CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. GIẢI PHÁP VỀ NGUỒN LỰC

1. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Với lợi thế là trung tâm của vùng về giáo dục đào tạo, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có nhiều trường Đại học, Cao đẳng và Dạy nghề. Để phát huy lợi thế, thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao, chính sách về phát triển nguồn nhân lực phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Trong công tác tạo nguồn cán bộ cho các cơ quan hành chính nhà nước cần bảo đảm tính công khai minh bạch trong tuyển dụng, bảo đảm lựa chọn được đội ngũ cán bộ có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Có chính sách ưu đãi thu hút những người có học hàm, học vị cao về công tác tại những ngành, lĩnh vực tỉnh đang tập trung ưu tiên phát triển.
- Có sự gắn kết giữa địa phương và Các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn để sử dụng tối đa nguồn tri thức cho phát triển thông qua các hình thức sử dụng chuyên gia tư vấn, hợp tác nghiên cứu, hợp tác đào tạo.
- Củng cố và ưu tiên phát triển mạng lưới đào tạo nghề của tỉnh, đặc biệt ưu tiên đầu tư xây dựng trường nghề của tỉnh, củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên bảo đảm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực lao động kỹ thuật có tay nghề cho phát triển công nghiệp trên địa bàn.
- Trên cơ sở quy hoạch và tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức, thực hiện đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn  đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính, hội nhập kinh tế quốc tế.
- Xây dựng cơ chế chính sách thu hút nhân tài, các chuyên gia giỏi, lao động có trình độ cao vào những lĩnh vực mà tỉnh đang ưu tiên phát triển.
- Thực hiện mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo để thực hiện đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, nhà nước thực hiện hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo cho các đối tượng chính sách, hỗ trợ cho nông dân chuyển đổi nghề nghiệp,...
- Đào tạo đội ngũ cán bộ các doanh nghiệp, thông qua các chương trình hỗ trợ đào tạo của Chính phủ như khởi sự doanh nghiệp, phát triển hợp tác xã,...
2. Giải pháp về vốn đầu tư
Theo phương án tính toán để thực hiện được các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch 5 năm, ước tính nhu cầu vốn cả giai đoạn 2011-2015 tổng vốn đầu tư cần khoảng 50.000 tỷ đồng (theo giá hiện hành).
Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư nêu trên, cần có các giải pháp huy động vốn một cách tích cực, tập trung huy động các nguồn vốn sau: vốn ngân sách nhà nước (Trung ương, địa phương, vốn ODA), vốn tự có của các doanh nghiệp, vốn trong dân cư, vốn FDI, vốn tín dụng,...
Khả năng đáp ứng nguồn vốn đầu tư:
- Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước: trong giai đoạn 2011-2015 cần huy động khoảng 10.000 tỷ đồng, đáp ứng khoảng 20% tổng nhu cầu vốn đầu tư. Nguồn vốn ngân sách chủ yếu dành cho đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và kích cầu đầu tư. Để nâng cao nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cần:
+ Tăng tỷ lệ tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tiết kiệm chi để dành cho đầu tư phát triển, khai thác nguồn vốn từ quỹ đất để mở rộng và phát triển hạ tầng đô thị.
+ Đề xuất Trung ương đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng lớn của mạng lưới giao thông, điện lưới, thuỷ lợi, hạ tầng đô thị, y tế, giáo dục từ các nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu của Trung ương, đầu tư qua các Bộ, ngành Trung ương, vốn trái phiếu Chính phủ,...
+ Xây dựng các dự án có căn cứ để tranh thủ các nguồn vốn thông qua các chương trình đầu tư của nhà nước và các tổ chức Quốc tế như các chương trình xoá đói giảm nghèo, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, y tế, giáo dục,...
- Nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp, nhu cầu vốn giai đoạn 2011-2015 khoảng 12.000 tỷ đồng, chiếm 24% tổng nguồn vốn. Đây là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh. Để tăng nguồn vốn này cần phải:
+ Thực hiện cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, có cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh trên địa bàn.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập doanh nghiệp mới, tạo môi trường cho người dân bỏ vốn vào đầu tư sản xuất.
- Nguồn vốn huy động trong dân: khoảng 8.000 tỷ đồng, chiếm 16% tổng vốn đầu tư, để huy động nguồn vốn này cần tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, củng cố phát triển hệ thống dịch vụ tư vấn, tài chính ngân hàng huy động tốt các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân; thực hiện tốt công tác xã hội hoá, khuyến khích nhân dân tham gia các hoạt động phát triển hạ tầng.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn từ các doanh nghiệp ngoài tỉnh, nguồn vốn này có một vị trí rất quan trọng, việc thu hút đầu tư bên ngoài là cơ hội để đổi mới công nghệ, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, mở rộng thị trường; ước nguồn vốn này khoảng 10.000 tỷ đồng, chiếm 20% tổng vốn đầu tư. Để có thể huy động được nguồn vốn này cần thực hiện các giải pháp:
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư vào tỉnh;
+ Tăng cường công tác quảng bá hình ảnh, tiếp thị địa phương, xúc tiến đầu tư để giới thiệu tiềm năng, lợi thế của tỉnh.
+ Kết hợp các hình thức liên danh liên kết để thu hút đầu tư;
+ Đề nghị Chính phủ cho phép thực hiện cơ chế chính sách ưu đãi để tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
- Vốn tín dụng: sau khi huy động hết các nguồn vốn đầu tư trên, phần vốn còn thiếu được cân đối từ nguồn vốn vay tín dụng, dự kiến giai đoạn 2011-2015 cần vay khoảng 10.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư. Nguồn vốn này sử dụng để bổ sung vốn đầu tư cho các dự án thuộc các nguồn vốn trên, để bảo đảm cho các dự án hoạt động hiệu quả.
3. Phát triển khoa học và công nghệ
- Xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ:
+ Sử dụng công nghệ nhiều tầng, ưu tiên công nghệ hiện đại, kết hợp với công nghệ truyền thống phù hợp với trình độ sản xuất của tỉnh.
+ Tăng cường và đẩy nhanh tốc độ chuyển giao công nghệ, nhất là các công nghệ đặc thù trong khai thác, chế biến khoáng sản, chế biến nông lâm sản,...
+ Đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác quản lý khoa học công nghệ, đáp ứng kịp thời các nghiên cứu triển khai và điều tra cơ bản.
+ Đổi mới chính sách cán bộ đối với đội ngũ lao động khoa học công nghệ  trên cơ sở tạo môi trường hoạt động khoa học công nghệ.
- Hướng lựa chọn công nghệ của một số ngành quan trọng: công nghệ cơ khí chế tạo, ứng dụng công nghệ thiết kế và chế tạo.
II. GIẢI PHÁP VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH
1. Chính sách phát triển ngành, lĩnh vực ưu tiên:
Căn cứ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và các Quy hoạch ngành, lĩnh vực của cả nước, của vùng, tiến hành triển khai rà soát, bổ sung các quy hoạch ngành, lĩnh vực còn thiếu hoặc cần điều chỉnh, bổ sung để xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển cụ thể của từng ngành, lĩnh vực.
Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và huy động các nguồn vốn thực hiện có hiệu quả 5 chương trình hành động, 16 đề án về các lĩnh vực trọng tâm và 45 dự án, quy hoạch và công trình trọng điểm của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015.
Lựa chọn một số ngành, sản phẩm mang tính đột phá để tập trung nguồn lực đầu tư, đặc biệt là phát triển kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển ngành, lĩnh vực.
Trong lĩnh vực đầu tư công, ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là giao thông đến các vùng kinh tế trọng điểm, nối liền các cụm, khu công nghiệp với các tuyến giao thông huyết mạch; đầu tư hạ tầng cho nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực; đầu tư bảo vệ đê điều, phòng chống thiên tai cho các vùng xung yếu; quan tâm đầu tư phát triển y tế, giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu tạo nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2015 và các năm tiếp theo. 
Hàng năm đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, dự án, công trình trọng điểm giai đoạn 2011-2015 để rút kinh nghiệm, đồng thời đề xuất bổ sung xây dựng các chương trình, đề án, công trình trọng điểm theo hướng gắn với ngành, lĩnh vực ưu tiên đầu tư để thực hiện có trọng tâm, trọng điểm và hiệu quả, bảo đảm tính khả thi.
2. Chính sách về quảng bá, tiếp thị địa phương và xúc tiến đầu tư
Xây dựng đề án xúc tiến đầu tư theo hướng quảng bá hình ảnh, tiềm năng thế mạnh của tỉnh ra ngoài tỉnh, nước ngoài trong đó cần xác định rõ mục tiêu các nhà đầu tư mà tỉnh cần hướng tới để từng bước tiếp cận, lôi kéo để thu hút đầu tư; xây dựng hình ảnh địa phương Thái Nguyên năng động, tạo lợi thế khác biệt, tạo môi trường thân thiện giữa chính quyền, người dân, xã hội với doanh nghiệp, các doanh nhân - những người đang tìm cơ hội đầu tư.
Kịp thời khắc phục ngay những tồn tại, yếu kém, thông qua các kênh thông tin để truyền đạt tới khách hàng - nhà đầu tư những chuyển biến tích cực trong việc khắc phục những tồn tại, yếu kém, xử lý cán bộ công chức nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư,…
Bổ sung, sửa đổi cơ chế chính sách về thu hút đầu tư bảo đảm tính công khai, minh bạch của chính sách; tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư và có năng lực tài chính có thể tiếp cận, triển khai thực hiện các dự án nhanh và thuận tiện nhất giảm chi phí ra nhập thị trường…; đồng thời có chế tài xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức lợi dụng cơ chế ưu đãi của tỉnh để trục lợi, mua bán dự án,…
3. Phát triển kết cấu hạ tầng   
Trong giai đoạn 2011-2015, đường cao tốc Hà Nội-Thái Nguyên, Quốc lộ 3, đường Hồ Chí Minh, đường sắt... được đầu tư và hoàn thành sẽ tạo ra lợi thế rất lớn về phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Thái Nguyên. Do vậy việc tạo quỹ đất và quản lý quỹ đất sạch để thu hút đầu tư là một nhiệm vụ quan trọng đối với Thái Nguyên.
- Việc phát triển hạ tầng phải gắn kết với hình thành và phát triển các khu cụm công nghiệp, khu đô thị, bảo đảm sử dụng có hiệu quả đất đai.
- Trong phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiêp và làng nghề phải gắn với các giải pháp về quản lý và bảo vệ môi trường
- Bảo đảm được sự hài hòa lợi ích giữa nhà nước với người dân; nhà nước với nhà đầu tư khi thực hiện các chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng để đầu tư các công trình công cộng, khu đô thị, khu, cụm công nghiệp.
4. Tăng cường cải cách hành chính, đẩy mạnh công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
4.1. Công tác cải cách hành chính: nghiên cứu, rà soát, xoá bỏ cơ bản các thủ tục hành chính mang tính bao cấp, quan liêu, rườm rà gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp. Nhất là các lĩnh vực xây dựng cơ bản; thu hút đầu tư; đất đai; đăng ký kinh doanh; cấp phép các loại; cán bộ; tiền lương;... Hoàn thiện các thủ tục hành chính theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho nhân dân.
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống hành chính. Đẩy mạnh cải cách các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, chuyển dần những việc, những dịch vụ công do cơ quan nhà nước thực hiện cho các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp.
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan hành chính nhà nước gọn nhẹ, theo nguyên tắc các sở ngành quản lý đa ngành nghề, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý nhà nước chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra việc thực hiện.
- Chấn chỉnh kỷ luật hành chính trong hệ thống các cơ quan hành chính, từng bước hiện đại hóa nền hành chính, mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế.
4.2. Đẩy mạnh công tác bồi thường GPMB: để thực hiện tốt công tác bồi thường GPMB các công trình dự án trọng điểm theo kế hoạch của tỉnh. Phải tập trung, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, thực hiện công tác bồi thường GPMB, có giải pháp thích hợp, tập trung mọi nguồn lực, chỉ đạo kiên quyết, động viên sự tham gia của cộng đồng và nhà đầu tư triển khai đồng bộ. Để thực hiện được cần làm tốt một số giải pháp sau:
- Kiện toàn, bổ sung bộ máy thực hiện công tác bồi thường GPMB từ tỉnh tới huyện, có kế hoạch chuyển đổi mô hình thành trung tâm phát triển quỹ đất phù hợp với Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009.
- Kịp thời bổ sung các quy định về bồi thường GPMB cho phù hợp với những văn bản thay đổi của nhà nước về công tác bồi thường GPMB.
- Quy hoạch các khu tái định cư và bố trí kinh phí để xây dựng các khu tái định cư vì hiện nay vướng mắc lớn nhất trong GPMB phụ thuộc vào tái định cư. Ban hành cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia xây dựng khu tái định cư.
- Hoàn thiện hệ thống bản đồ địa chính đối với các địa phương còn thiếu.   
Trên đây là nội dung báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 tỉnh Thái Nguyên./.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)


Phạm Xuân Đương