Bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ

TS Vũ Thị Kim Xuyến

(Học viện Chính trị khu vực 1)

      Cách đây 61 năm (ngày 2-9 -1945), tại Quảng trường Ba Đình- Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Tuyên ngôn Độc lập ngày 2- 9 - 1945 là viên đá đầu tiên đặt nền tảng pháp lý cho Nhà nước Việt Nam - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là một văn kiện pháp lý đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quốc tế và thời đại. Nó khẳng định những nguyên tắc pháp lý về độc lập, dân tộc có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các quyền cơ bản của con người.

     Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bôn ba khắp năm châu, bốn biển để tìm đường cứu nước. Từ chủ nghĩa yêu nước đến với học thuyết Mác - Lê-nin, Người đã thấm nhuần sâu sắc và vận dụng sáng tạo học thuyết ấy vào hoàn cảnh đất nước, thức tỉnh nhân dân ta đấu tranh bền bỉ, kiên cường, bất khuất làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và bộ máy kìm kẹp của bọn phong kiến tay sai, ghi vào lịch sử đất nước bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ. Đó là một quyết định rất sáng suốt, thể hiện tầm nhìn chiến lược của một nhà chính trị già dặn, tài ba.

      Viện dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của cách mạng Pháp năm 1791, mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được ".

     Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam được trang trọng mở đầu bằng những lời bất hủ đó để nói với nhân dân thế giới rằng: Nhân dân Việt Nam tiến hành đấu tranh cách mạng đánh đuổi phát xít Nhật, thực dân Pháp, lật đổ chế độ quân chủ là thực hiện quyền chính đáng để giành độc lập - tự do. Tuyên ngôn còn nói với chính nhân dân Việt Nam rằng, cách mạng Việt Nam quyết thực hiện những mục tiêu cao cả: Độc lập - Tự do - ấm no - Hạnh phúc cho nhân dân, cho đất nước, cho dân tộc.

      Như vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thần kỳ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, thực hiện các quyền tự do, dân chủ cơ bản của con người. Đây chính là lẽ sống của Người, là mục tiêu của sự nghiệp giành chính quyền để xây dựng nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử dân tộc - một nhà nước kiểu mới mà trong đó, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân bầu ra các đại biểu của mình theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp bằng hình thức bỏ phiếu kín. Chỉ một ngày sau khi Tuyên ngôn Độc lập công bố, ngày 3- 9 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã họp Chính phủ, nêu rõ những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam. Người đề nghị "Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, để có một Chính phủ của dân và do dân".

      Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh với danh nghĩa là người đứng đầu Chính phủ  luôn chăm lo xây dựng bộ máy Nhà nước của nhân dân, hoạt động vì lợi ích của nhân dân. Người đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ được phân công nắm các chức danh trong bộ máy Nhà nước. Đó phải là những người có tài, có đức, tự nguyện đứng ra gánh vác việc nước và phải phụng sự nhân dân, là "đầy tớ của nhân dân". Người  yêu cầu cán bộ các cấp thực hiện như vậy, và chính Người đã nêu một tấm gương sáng trong về những tiêu chuẩn đó.

      Mục đích của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật cao cả. Trước toàn thế giới, Tuyên ngôn Độc lập là hòn đá tảng pháp lý đầu tiên khẳng định cả trên nguyên tắc và trên thực tế, quyết tâm sắt đá của nhân dân Việt Nam, trong nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước của mình để có quyền được sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc.

     Từ văn bản pháp lý Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phát hiện ra bản chất của pháp luật mà còn nêu bật ranh giới pháp luật  Nhà nước ta với pháp luật nhà nước nô lệ - phong kiến tư sản. Người đã xác định pháp luật của Nhà nước ta là ý chí của giai cấp công nhân, bảo vệ quyền lợi cho mọi người dân lao động với mục tiêu phấn đấu: Làm cho dân có ăn.  Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành.

     Người còn giải thích rõ: "Chúng ta đã hy sinh, phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã tranh được tự do, độc lập mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng chẳng làm gì. Dân chỉ biết giá trị tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ".

     Trải qua 61 năm, từ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bầu cơ quan quyền lực Nhà nước các cấp đã trở thành định chế, nguyên tắc xây dựng Nhà nước ta. Tư tưởng chính trị pháp lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập vẫn còn nguyên ý nghĩa. Đây chính là một bản Tuyên ngôn về một nhà nước kiểu mới của loài người - nhà nước của dân, do dân và vì dân, có tầm quan trọng đặc biệt nhằm định hướng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta  hiện nay.

     Từ viên đá đầu tiên – bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ ấy, 61 năm qua, toàn Đảng, toàn dân Việt Nam chung sức, đồng lòng xây dựng bộ máy Nhà nước ta ngày càng hoàn thiện hơn- một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân./.