Bản lĩnh của Phó trưởng THADS tỉnh Tuyên Quang trước vụ việc phức tạp tồn đọng 8 năm
Ông Trần Quang Hưng - Phó trưởng Thi hành án dân sự (THADS) tỉnh Tuyên Quang, là người đã có nhiều năm gắn bó với công việc thi hành án, với ông, mỗi tập hồ sơ là một câu chuyện đời, một xung đột lợi ích khó quên.
Chấp hành viên phải chạy đua với thời gian
“Bản án của Tòa là lời phán quyết trên giấy, còn chấp hành viên là người khiến lời phán quyết đó thành hiện thực”, theo ông Hưng cách ví von ấy không chỉ mang tính hình tượng, mà phản ánh đúng bản chất công việc của ngành.
Theo ông Hưng khó khăn và là rào cản đầu tiên và phổ biến nhất chính là thái độ chây ỳ, đương sự không đơn thuần là không muốn trả tài sản mà họ tìm mọi cách để biến mất. Họ lẩn tránh xác minh, né tránh đôn đốc, biến những buổi làm việc thành những cuộc đuổi bắt không hồi kết.
Nhưng đau lòng hơn là những trường hợp không có điều kiện thi hành. Đó là những người thực sự trắng tay, hoặc đang chấp hành án phạt tù, hoặc đã rời bỏ địa phương đi biệt xứ không dấu vết. Lúc này, bản án giống như một gánh nặng treo lơ lửng, chấp hành viên vừa phải làm tròn trách nhiệm, vừa phải đối diện với sự thất vọng của người được thi hành án.
Tuyên Quang chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ về địa giới hành chính và kinh tế, thế nhưng, đi cùng với sự phát triển là những hệ lụy của nợ xấu ngân hàng. Các vụ án liên quan đến tín dụng ngày càng nhiều. Số lượng bản án liên quan đến ngân hàng chuyển sang cơ quan THADS không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng đột biến về giá trị.
Việc xử lý tài sản bảo đảm (thế chấp) là một hành trình đầy rẫy chông gai. Thực tế tại địa phương cho thấy, nhiều bất động sản thế chấp có sai lệch diện tích so với giấy tờ ban đầu, hoặc trên đất thế chấp lại mọc lên những công trình của người khác.
Theo ông Hưng, trong bối cảnh thị trường bất động sản có những giai đoạn “đóng băng”, việc bán đấu giá tài sản trở thành nỗi ám ảnh. Có những tài sản phải giảm giá đến hàng chục lần, kéo dài vài năm trời vẫn không có người mua. Tài sản thì xuống cấp, vốn của Nhà nước và ngân hàng thì ứ đọng, còn chấp hành viên thì chịu áp lực kinh khủng về chỉ tiêu thi hành xong.
Khi công lý gõ cửa, cũng là lúc những kẻ gian xảo bắt đầu tẩu tán tài sản. Ông Hưng cho biết, hành vi này nay đã được nâng tầm ngày càng tinh vi dưới những vỏ bọc pháp lý hoàn hảo. Thay vì mang vàng đi chôn hay giấu tiền dưới gối, đương sự ngày nay sử dụng các giao dịch dân sự giả tạo. Họ ký kết những hợp đồng mua bán, chuyển nhượng cho người thân ngay trước khi bản án có hiệu lực. Họ chia nhỏ dòng tiền, đẩy qua các tài khoản trung gian hoặc ví điện tử để xóa dấu vết.
Để đối phó, chấp hành viên phải chạy đua với thời gian. Ngay khi nhận hồ sơ, các biện pháp khẩn cấp tạm thời như phong tỏa tài khoản, cấm chuyển dịch tài sản phải được thực hiện chớp nhoáng. Chỉ cần chậm một giờ, tài sản có thể đã “bốc hơi” sang một pháp nhân khác.
Một thực tế đáng chú ý khác là không ít người phải thi hành án đã tận dụng chính các quy định pháp luật để kéo dài thời gian. Phổ biến nhất là việc lạm dụng quyền khiếu nại, tố cáo. Mỗi quyết định của chấp hành viên đều có thể trở thành đối tượng khiếu nại, dù nội dung không có căn cứ. Cơ quan thi hành án vẫn buộc phải thụ lý và giải quyết theo quy trình, dẫn đến mất nhiều thời gian. Ngoài ra, việc gửi đơn đến nhiều cơ quan khác nhau cũng tạo áp lực và làm phức tạp hóa quá trình xử lý. Không ít trường hợp còn lợi dụng quy định về hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án để trì hoãn nghĩa vụ.
Trong bối cảnh nhiều khó khăn như hiện nay, theo ông Hưng, việc ứng dụng công nghệ thông tin được xem là một hướng đi tích cực. Tại Tuyên Quang, 100% công chức sử dụng hệ thống văn bản điện tử, ký số, quản lý hồ sơ trên nền tảng số. Các ứng dụng như VNeID, dịch vụ công trực tuyến cũng được triển khai đồng bộ. Việc số hóa giúp minh bạch hóa quy trình, giảm bớt thủ tục hành chính và tăng hiệu quả quản lý. Việc thu nộp tạm ứng án phí qua Cổng dịch vụ công quốc gia đã giúp minh bạch hóa dòng tiền, giảm thiểu tiêu cực. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ. Vấn đề cốt lõi vẫn nằm ở con người và hệ thống pháp luật.
Ông Hưng nhấn mạnh: “Công nghệ chỉ là công cụ, sự phối hợp giữa Tòa án - Kiểm sát - Thi hành án - Ngân hàng mới là chìa khóa”. Việc các tổ chức tín dụng cung cấp thông tin tài khoản kịp thời chính là “vũ khí” sắc bén nhất để ngăn chặn hành vi tẩu tán.
Hành trình khép lại một bản án phức tạp kéo dài 8 năm
Ở góc độ thi hành án, một bản án không chỉ cần đúng pháp luật mà còn phải “thấu tình đạt lý”. Theo ông Trần Quang Hưng, một bản án nhân văn là sự kết hợp hài hòa giữa pháp lý và đạo lý, giữa tính nghiêm minh và tính nhân đạo. Đó là bản án không chỉ giải quyết đúng - sai, mà còn hướng tới công bằng thực chất và giá trị con người.
Ông Hưng cũng nhận định, vai trò của chính quyền địa phương và các đoàn thể là một yếu tố đặc biệt quan trọng. Ở nhiều vụ việc, sự xuất hiện của trưởng thôn, hội phụ nữ hay bí thư chi bộ có thể tạo ra tác động tâm lý mạnh mẽ hơn cả những biện pháp cưỡng chế.
Việc vận động, thuyết phục giúp giảm xung đột, tạo sự đồng thuận, đặc biệt ở những khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa. Cưỡng chế chỉ là biện pháp cuối cùng, đó không chỉ là nguyên tắc, mà còn là bài học được rút ra từ thực tiễn của ông Hưng.
Nghề thi hành án là nghề đứng giữa hai ranh giới, một bên là đòi hỏi gay gắt của người được thi hành, một bên là sự chống đối quyết liệt của người phải thi hành. Giữa ranh giới đó, cám dỗ luôn hiện hữu. Với những vụ án trị giá hàng trăm tỷ đồng, việc đương sự dùng lợi ích vật chất để mua chuộc chấp hành viên là chuyện xảy ra như cơm bữa. Những cám dỗ ấy có thể khiến một người không vững vàng sa ngã chỉ trong tích tắc.
Lãnh đạo THADS Tuyên Quang hiểu rõ điều này. Vì vậy, việc giáo dục đạo đức công vụ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và siết chặt kỷ luật nội bộ luôn được đặt lên hàng đầu.
Ông Hưng chia sẻ, đằng sau một cuộc cưỡng chế thành công là những đêm mất ngủ của chấp hành viên. Họ không chỉ đối mặt với nguy cơ bị hành hung, mà còn bị tấn công về tinh thần. Những lá đơn vu khống, những lời đe dọa đến gia đình, con cái luôn là áp lực vô hình nặng nề. Nghề thi hành án, vì thế, không dành cho những người yếu tim hay thiếu bản lĩnh.
“Thi hành án không phải là đi thu tài sản, mà là lấy lại công bằng”, ông Hưng khẳng định. Nhắc lại vụ việc cưỡng chế trả lại quyền sử dụng đất cho Công ty chè Mỹ Lâm, ông Hưng gọi đó là bài học về sự cẩn trọng. Trong thi hành án, tuyệt đối không được “cưỡng chế mù”. Mọi mốc giới, diện tích phải được đo đạc chính xác đến từng centimet.
Ông Hưng nhấn mạnh, một sai sót nhỏ của chấp hành viên có thể làm bùng nổ xung đột lớn giữa người dân và chính quyền. Bản lĩnh của người làm nghề là dùng cái đầu lạnh để phân tích và trái tim nóng để thuyết phục.
Thi hành Bản án sơ thẩm số 64/2017/DSST ngày 15/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn (nay là TAND khu vực 1 – Tuyên Quang). Căn cứ Bản án dân sự phúc thẩm số 07/DSPT/2018 ngày 02/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang và Quyết định thi hành án số 517/QĐ-CCTHADS ngày 17/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang (nay là Phòng THADS khu vực 1), ông Nguyễn Văn Đ., sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố Mỹ Lâm 6, phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang, có nghĩa vụ trả lại cho Công ty Cổ phần chè Mỹ Lâm diện tích 18.826 m2 đất nhận khoán (thuộc các thửa 21, 22, 25, 26, tờ bản đồ số 22) và 3.631,1 m2 đất sử dụng vượt quá hợp đồng số 31/HĐK-TP-19 ngày 01/6/2002. Nghĩa vụ này bao gồm việc bàn giao diện tích đất thực tế ông Đ. đang quản lý tại thửa số 17 (diện tích 2.886,7 m2) và thửa số 22 (diện tích 19.570,4 m2) thuộc tờ bản đồ số 18-PL, cùng toàn bộ tài sản là cây chè trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 163317 của Công ty Cổ phần chè Mỹ Lâm; đồng thời, ông Đ. buộc phải di chuyển cây ổi, cây bưởi, thu hoạch hoa màu (sắn, mía) và tháo dỡ toàn bộ tường rào xây dựng trên các thửa đất số 17, 22 tờ bản đồ số 18.
Trong quá trình tổ chức thi hành án, dù cơ quan chức năng đã nhiều lần xác minh hiện trạng từ năm 2020 đến tháng 7/2024, ông Đ. vẫn không nhất trí thực hiện bản án với lý do thông tin về diện tích, tài sản không đúng thực tế và liên tục phát sinh các vụ kiện dân sự đòi bồi thường. Thực tế ghi nhận khối lượng tài sản trên đất rất phức tạp, bao gồm tài sản gốc (tường rào kiên cố, hàng nghìn gốc chè, hệ thống tưới tiêu) và khối lượng lớn tài sản phát sinh sau bản án (hàng trăm cây bưởi, cây sưa, diện tích trồng sắn mới, các loại cây ăn quả như na, mít, xoài, chanh, vú sữa và hệ thống rào lưới nhựa). Do quy định pháp luật chưa có hướng dẫn chi tiết về việc xử lý tài sản phát sinh sau bản án cũng như các tài sản không nằm trong nội dung tuyên (như hệ thống thủy nông), Phòng THADS khu vực 1 gặp vướng mắc lớn về phương án cưỡng chế, hình thức xử lý tài sản (chặt bỏ hay di chuyển) cũng như trách nhiệm quản lý, chăm sóc tài sản trong thời gian chờ giải quyết, dẫn đến nhu cầu cần có sự chỉ đạo, thống nhất từ các cơ quan liên ngành để đảm bảo việc thi hành án đúng quy định và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.
Trong suốt quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên đã thực hiện đầy đủ các bước theo quy định từ xác minh điều kiện, tuyên truyền, vận động đến thuyết phục trực tiếp người phải thi hành án là ông Nguyễn Văn Đ. (tại tổ dân phố Mỹ Lâm 6, phường Mỹ Lâm). Tuy nhiên, đương sự đã thể hiện thái độ chống đối, cố tình trì hoãn và viện dẫn nhiều lý do thiếu căn cứ để kéo dài thời gian. Sự thiếu thiện chí, không hợp tác này không chỉ là rào cản pháp lý mà còn là bài toán về sự kiên trì đối với Chấp hành viên.
Đây là vụ việc phức tạp, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về phương án, nhân lực và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và lực lượng bảo vệ để đảm bảo an ninh trật tự.
Trước thái độ thiếu thiện chí, không hợp tác, Chấp hành viên đã báo cáo cấp có thẩm quyền, phối hợp thành lập các tổ công tác, kiên trì tuyên truyền pháp luật, đồng thời kiên quyết áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với vụ việc đã kéo dài nhiều năm, gây bức xúc trong dư luận theo đúng quy định, đảm bảo tính nghiêm minh, kỷ cương của pháp luật.
Ngày 17/10/2025, buổi cưỡng chế được thực hiện an toàn, đúng trình tự, quy định pháp luật. Quá trình cưỡng chế thi hành án dân sự tại tổ 6, phường Mỹ Lâm, tỉnh Tuyên Quang diễn ra an toàn, đúng pháp luật, đảm bảo các Quyết định của Tòa án được thực thi, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Sau nhiều bản án phức tạp và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm làm nghề, ông Hưng nhấn mạnh quan điểm, thay vì áp đặt, cơ quan THADS Tuyên Quang thường chọn cách đối thoại. Lắng nghe thực chất những khiếu nại của dân, nếu mình sai thì dũng cảm sửa, nếu dân chưa hiểu thì kiên trì giải thích. Sự vào cuộc của các đoàn thể, những người có uy tín trong bản làng đôi khi có tác dụng tức thì. Khi người dân hiểu và tự nguyện thi hành, đó mới là thắng lợi lớn nhất của công lý.
Thượng tôn pháp luật bắt đầu từ những hành động cụ thể nhất đó là, tôn trọng và tự giác thi hành bản án đã có hiệu lực. Mỗi bản án thành công chính là một viên gạch củng cố cho pháp quyền. Và những người làm nghề thi hành án, dẫu còn nhiều gian nan, vẫn sẽ tiếp tục hành trình của mình.