Bản di chúc bị tòa cố tình bị hiểu sai?

Vụ chia thừa kế của 7 anh em ông Trần Đoàn Kết (trú tại ngõ Xã Đàn, quận Đống Đa, Hà Nội) tưởng đã đi vào hồi kết khi có bản án phúc thẩm của TAND TP. Hà Nội công nhận bản di chúc của bố ông Kết, có sự nhất trí và tự nguyện thực hiện của vợ. Nhưng chỉ khoảng hơn 6 tháng sau, TANDTC lại có Quyết định kháng nghị.

Vụ chia thừa kế của 7 anh em ông Trần Đoàn Kết (trú tại ngõ Xã Đàn, quận Đống Đa, Hà Nội) tưởng đã đi vào hồi kết khi có bản án phúc thẩm của TAND TP. Hà Nội công nhận bản di chúc của cụ Trần Đạo Uyên (bố ông Kết), có sự nhất trí và tự nguyện thực hiện của vợ. Nhưng chỉ khoảng hơn 6 tháng sau, TANDTC lại có Quyết định kháng nghị với nhận định: “Phần di chúc của cụ Uyên không đề cập đến phần đất ông Kết đang sử dụng”. Sự thật có phải như vậy?.

20 năm - lật lại một bản di chúc

Sinh thời, cụ Trần Đạo Uyên và vợ là Trần Thị Hợi tạo dựng được khối tài sản chung gồm thửa đất số 95 và số 74, ngõ Xã Đàn 2, phường Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội. Năm 1989, cụ Uyên viết bản “chúc thư để lại nhà đất cho các con” với nội dung, chia thửa đất số 95 cho 6 người con đầu. Đối với người con út, chúc thư nêu rõ “Trần Đoàn Kết ở riêng thuộc mảnh đất số 74”.

hfgkj
Thửa đất này bị kiện thừa kế sau 20 năm, từ khi có chúc thư

 

Sau khi cụ Uyên mất, 6 người con được chia thửa số 95 đều đã làm thủ tục cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) của riêng mình; riêng ông Kết sống cùng cụ Hợi trên thửa đất số 74. Sau này, cụ Hợi bán một phần thửa đất này, một phần ông Kết được cấp GCN. Năm 2008, khi 169 m2 đất còn lại chưa kịp làm “sổ đỏ” thì tranh chấp xảy ra ông Kết bị khởi kiện đòi chia thừa kế vì cho rằng, đây là di sản thừa kế của cụ Hợi, không được định đoạt theo di chúc của cụ Uyên.

Vụ án được TAND quận Đống Đa xét xử sở thẩm, nhưng bị kháng cáo nên TAND TP Hà Nội xét xử phúc thẩm: Cho rằng bản chúc thư được cụ Uyên viết trong lúc khoẻ mạnh, minh mẫn, không bị lừa dối, ép buộc và đều được các đương sự thừa nhận nên Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm đã chấp nhận về mặt hình thức bản di chúc này.

Tuy cụ Uyên định đoạt cả 2 thửa đất 74 và 95- tài sản chung của hai vợ chồng- là vượt quá phần quyền của mình nhưng bản di chúc lại được cụ Hợi nhất trí và tự nguyện thực hiện, không có ý kiến gì trái cho đến lúc mất nên HĐXX phúc thẩm đã chấp nhận toàn bộ nội dung bản di chúc của cụ Uyên. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị bác bỏ đồng nghĩa với việc ông Kết được tiếp tục sử dụng 169 m2 tại thửa đất số 74.  

Tòa tối cao… phủ nhận bản di chúc

Khi xem xét vụ kiện này theo thủ tục giám đốc thẩm, TANDTC lại cho rằng, “khi lập chúc thư, cụ Uyên không đề cập đến thửa đất số 74 do cụ Hợi quản lý, sử dụng” để rồi đi đến kết luận “cụ Hợi là chủ sử dụng thửa đất số 74. Cụ mất, không để lại di chúc nên 169m2 đất trong thửa đất này sẽ được cho thừa kế theo luật”(tức ông Kết không thể được hưởng toàn bộ)

Đưa ra nhận định này, TANDTC đã cố tình “quên” rằng, chúc thư của cụ Uyên năm 1989 có nội dung “Trần Đoàn Kết ở riêng thuộc mảnh đất số 74” đã đều được các đương sự thừa nhận. Điều này còn được khẳng định lại một lần nữa vào năm 1998 bằng “Đơn xin trình bày nhận quyền thừa kế” của cụ Hợi cùng toàn bộ 7 người con với nội dung “để hợp thức hoá bản chúc thư trên thành một văn bản hợp pháp hoá hơn, chúng tôi xin được thẩm định theo sơ đồ đã kê khai đất ở, nhà ở.

Trên cơ sở trong gia đình từ bà mẹ tôi Trần Thị Hợi cùng 7 gia đình đều nhất trí để UBND phường Nam Đồng cùng Sở Địa chính cấp phát sổ đỏ nhà đất ở và chứng nhận quyền hưởng thừa kế trên cho từng hộ gia đình”.

Theo ông Kết, đáng lẽ ông đã được cấp sổ đỏ cho toàn bộ diện tích thửa 74 theo di chúc và thoả thuận trên, nhưng do một phần đất đã bán cho người khác nên phải “đo vẽ lại để tách thửa” nên bị chậm cấp sổ đỏ chứ không phải do ông Kết không kê khai hoặc bị cụ Hợi phản đối. Thậm chí, trong đơn gửi UBND phường Nam Đồng vào năm 2002, cụ Hợi vẫn “đề nghị cấp GCN cho con trai út đứng tên 169m2 đất” vì “tài sản của vợ chồng tôi. Vợ chồng tôi có quyền định đoạt”.

Nội dung này còn cho thấy, cụ Uyên và cụ Hợi không hề chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, không hề có chuyện, cụ ông quản lý thửa 95, cụ bà quản lý riêng thửa 74 như nhận định tại quyết định giám đốc thẩm. Hai cụ cùng thống nhất chia di sản chung là thửa đất 74 và 95 cho các con được thể hiện qua nhiều chứng cứ và lời khai. Tại sao Quyết định kháng nghị lại phủ nhận điều này? Câu trả lời có lẽ chỉ cấp tối cao mới trả lời được.

Khoa Lâm