Bạn của một thời

Thế Vinh

Vào một chiều mùa hè nắng vàng rực rỡ, gió từ biển lồng lộng thổi về. Đại tá Dương Thành, đã về hưu, đang tập tễnh dạo bước bên hồ Tam Bạc, thì nghe tiếng người gọi. Ông quay lại thấy một phụ nữ chừng 40 tuổi, dáng người tầm thước, nước da trắng hồng, mặc quần áo trông thanh tao như một trí thức. Cô gái đi gần lại trước mặt ông.

-Cô gọi tôi?- Ông Thành lên tiếng trước.

-Vâng ạ! Bác có phải là bác Thành, bố anh Nhân ở An Dương không ạ?

-Vâng, sao cô biết tôi?

Cô gái lộ nét mừng trên khuôn mặt. Cô cảm động lặng đi, mãi mới nói được thành lời:

-Cháu là Minh Phương, bạn cũ của anh Nhân.

Ông Thành ngắm nhìn người phụ nữ một lúc, rồi hỏi:

-Có phải cháu là cô bé hồi còn học phổ thông vẫn đến nhà bác, rồi bắt thằng Nhân hát và dạy đàn cho phải không?

Cô gái gật đầu:

-Vâng ạ! Hồi ấy cháu với anh Nhân học cùng lớp và cũng mến nhau. Học hết cấp 3, anh Nhân đi bộ đội, cháu tiễn anh ấy lên đường vào Nam chiến đấu. Hai đứa hẹn nhau ngày về thì... năm sau nghe tin anh hy sinh ở Quảng Trị. Cháu buồn lắm, bác ạ! à, mà bác có vào thăm mộ của anh Nhân lần nào không?

Ông Thành chỉ chiếc ghế đá bên cạnh bờ hồ, rồi bảo Phương:

-Bác cháu mình ra đó ngồi nói chuyện được không? Lâu lắm, dễ chừng đến gần hai mươi năm rồi còn gì. Công việc của cháu thế nào? Tiện đây bác cũng có nhiều chuyện muốn tâm sự với cháu. Năm ngoái bác có vào thăm mộ của Nhân ở nghĩa trang Trường Sơn. Bác có ý định đưa hài cốt của Nhân về ngoài này cho bố con gần nhau.

Phương nhìn ông Thành vẻ ngạc nhiên:

-Anh Nhân nằm ở trong ấy đẹp đẽ và tươm tất lắm rồi, còn mang về ư hở bác? Vài năm trước cháu có hỏi Bộ Quốc phòng, biết được phần mộ của anh Nhân ở nghĩa trang Trường Sơn, cháu một vài lần đi công tác vào trong ấy đã ghé thăm anh ấy.

-Đành rằng thế. Nhưng cháu bảo nhà có một bố một con, bác gái mất đã cách đây dăm năm, nên bắc muốn đưa Nhân ra ngoài này cho gần. Mấy lần định đi mà nhà neo người chưa đi được.

Nghe ông Thành kể lại, Phương không cầm được nước mắt, cứ sụt sùi:

-Mới đầu cháu nghe anh Nhân đã hy sinh, cháu vẫn không tin, cháu hy vọng rằng đó là chuyện nhầm lẫn trong chiến tranh. Mãi đến khi giải phóng miền Nam được 5 năm, vẫn không thấy anh Nhân về hoặc thư từ cho cháu, thế là bố mẹ cháu giục phải đi lấy chồng. Thật cháu có lỗi với anh ấy quá?

Ông Thành nhìn vào đôi mắt ngấn lệ của Minh Phương, an ủi:

-Cháu không có lỗi gì cả. Nhân hy sinh rồi, cháu đi lấy chồng đó là lẽ đương nhiên, còn tương lai của cháu sau này nữa chứ. Giờ chồng con và gia đình cháu thế nào?

Phương lau nước mắt, di di đôi guốc trên mặt đất, rồi nói:

-Sau rồi cháu đi học đại học, tốt nghiệp xong thì cháu làm việc ngay ở Hà Nội, đến năm 1981 cháu mới lấy chồng. Chồng cháu là bộ đội, cháu có một con gái học hết cấp 3. Hiện cháu là cán bộ của Bộ thương mại. Lúc nào lên Hà Nội bác vào nhà cháu chơi. Bác có lên gọi điện thoại cháu ra đón- Nói rồi, Phương đưa chiếc Các-vi-dít cho ông Thành.

Ông Thành hý hoáy viết địa chỉ nhà mình đưa cho Phương, hỏi:

-Vợ chồng cháu có hạnh phúc không?

-Dạ, anh ấy tốt lắm, nhưng không hiểu sao cháu vẫn nhớ anh Nhân quá, bác ạ.

Minh Phương ngồi thừ ra một lúc, rồi nhìn ông Thành:

-Thế năm nay bác có vào thăm mộ anh Nhân không ạ? Bác có vào cho cháu gửi thẻ hương thắp cho anh ấy.

Ông Thành lặng lẽ nhìn mặt hồ sóng nước lăn tăn, những hàng cây rì rào gió thổi. Tốp tốp các cụ già thủng thẳng dạo mát quanh hồ. Sau khi rít hơi thuốc lá, ông nhìn Phương thương cảm:

-Không chắc có đi được, vì bác tuổi cao rồi, mấy năm nay vết thương cứ trở trời là lại tái phát, đau ê ẩm. Còn cháu cố quên Nhân đi, kẻo chồng cháu biết nó lại buồn. Cháu có nhớ mãi thì Nhân đã hy sinh rồi. Tập trung tình cảm cho chồng cho con, đừng phân vân nữa. Lấy được người chồng tốt như chồng cháu là khó lắm đấy.

Phương nhìn ông Thành vẻ ái ngại:

-Hiện nay bác vẫn ở một mình?

-Ừ, bác vẫn ở một mình với một con mèo và một con chó. Được cái hàng ngày bà con khu phố, rồi bạn bè đến chơi thăm hỏi bác luôn, nên cũng không thấy buồn. Khi nào có dịp về Hải Phòng rẽ vào chơi với Bác, hãy coi bác như người thân,có khó khăn gì trong cuộc sống thì cho cháu biết.

Hai bác cháu đứng dậy ra về trời đã nhập nhoạng tối. Thành phố lên đèn, ánh điện lung linh tỏa khắp phố phường, từng dòng người vội vã về với bữa cơm gia đình. Sau lần gặp ông Thành, trở về Minh Phương thấy khổ tâm, và cô cảm thấy căm thù chiến tranh vì đã cướp đi người yêu đầu đời của cô. Trong lòng cô nao nao không thể nào quên được Nhân. Phương càng thấy ân hận vì chưa lập được chiếc ban thờ để thờ Nhân. Hơn 10 năm nay, ngày nào Phương cũng lầm rầm cầu nguyện cho hương hồn của Nhân được mát mẻ dưới suối vàng.

Mấy tháng gần đây, Bình thấy vợ buồn lặng lẽ như cái bóng. ít ăn, ít ngủ, người gầy gộc đi. Bình lo lắng thuốc thang, bồi dưỡng cho Phương đủ thứ, mà Phương không thể nào béo lên được. Anh hỏi thế nào vợ cũng không nói, mà nhìn cặp mắt của vợ thâm quầng, lúc nào cũng đau đáu nhìn về cõi xa xăm. Mấy ngày nay Phương nấu cơm xong rồi dọn cơm ra cho chồng, cô lại vào giường nằm. Bình gọi mãi Phương vẫn không dậy, chỉ kêu buồn và mệt không ăn được.

Bình hỏi:

-Hay là em có thai?

-Không phải, em chỉ thấy buồn thôi.

Suy nghĩ mãi, rồi Bình cũng hiểu ra nỗi buồn của vợ. Anh ngồi bên mâm cơm mà không sao ăn được. Trong lòng mình, Bình thấy chưa thấu hiểu lòng vợ. Chuyện Phương và Nhân yêu nhau tư hồi còn là học sinh.Tình yêu của họ đã quá lâu, vả lại Nhân đã hy sinh, suy cho cùng thì Nhân cũng là đồng đội của anh, họ không lấy được nhau là do chiến tranh. Phương có thờ Nhân chẳng qua là tỏ lòng thành kính một người đã hy sinh vì Tổ quốc, có gì mà phải khó chịu. Phương là người vợ đối với anh quá tốt, chỉ biết đến chồng và con. Bình đứng phắt dậy đến bên vợ.

-Dậy ăn cơm đi em, cứ nhịn lâu ngày thế này thì ốm mất. Anh thấy em gầy nhiều rồi đó, Thôi, anh thông cảm và chiều theo ý muốn của em. Em cứ lập bàn thờ để thờ Nhân. Tuần sau anh với em về Hải Phòng thăm bác Thành, rồi xin phép bác và chính quyền địa phương vợ chồng mình vào Trường Sơn đưa hài cốt của Nhân về để bố con bác Thành được gần nhau.

Phương đang buồn, nghe chồng nói vậy mắt cô sáng lên, ngồi bật dậy cầm lấy tay chồng:

-Em cảm ơn anh rất nhiều.

Phương kéo Bình ra ngồi vào mâm cơm, rồi tự tay gắp thức ăn cho chồng. ăn cơm xong, Bình đứng dậy vuốt tóc vợ:

-Em yêu, em định đi vào lúc nào?

-Để em chuẩn bị chu đáo đã anh ạ. Khi nào đi vợ chồng mình phải xin nghỉ phép anh nhỉ?

-Ừ, để anh cùng đi với em, đường sá xa xôi, lại còn hài cốt của Nhân, mình em là phụ nữ lo sao nổi.

Nghe chồng nói có lý, Phương cảm động hôn lên má chồng.

Mọi việc vợ chồng Phương đã chuẩn bị xong xuôi. Họ lên đường vào nghĩa trang Trường Sơn để đưa Nhân về quê. Ròng rã hai ngày hai đêm ngồi trên tàu hỏa, những kỷ niệm học trò giữa Nhân và Phương hiện về trong đầu cô. Còn Bình, anh hình dung lại bao tình cảm đồng đội trong những cuộc chiến đấu ác liệt năm nào ở chiến trường miền Nam. Có trận Bình bị thương, không có đồng đội thì giờ Bình đã trở thành cát bụi. Bình thấy hối hận không ủng hộ việc làm của vợ ngay từ đầu, mà vợ héo hon sầu muộn.

Hai vợ chồng Bình đã tìm được ngôi mộ Nhân, rồi làm thủ tục đưa Nhân về. Khi về đến ga Hải Phòng, Phương đã thấy bác Thành và đoàn cán bộ thành phố ra đón, họ đưa hài cốt của Nhân về nghĩa trang thành phố chôn cất. Lễ truy điệu Nhân trong không khí trang nghiêm, có đông đủ đồng đội và bạn bè thân thiết. Họ tề tựu bên hài cốt của Nhân dưới nắng thu vàng dìu dịu. Phương mặc bộ quần áo màu đen, tay đeo băng tang, cô đốt hương rồi qùy xuống trước mộ của Nhân chắp hai tay lên ngực thì thầm khấn vái:

-Anh Nhân, anh tha lỗi cho em, anh bảo chờ anh, rồi chờ mãi anh có về đâu. Biết anh đã hy sinh, chiều lòng bố mẹ em phải đi lấy chồng, nhưng trong lòng em không lúc nào không nhớ tới anh. Anh nằm ở nghĩa trang Trường Sơn xa quá, nhớ anh mà không có điều kiện thăm non anh, giờ thì anh đã về gần nhà, gần bố. Trong lòng em đã thấy toại nguyện. Sau này mỗi lần về Hải Phòng, em sẽ đến thăm anh./.