Long Đại - Nơi tuổi xuân hóa thành bất tử

Bài 2: 16 trái tim tuổi hai mươi hóa thành bất tử

Bài 2: 16 trái tim tuổi hai mươi hóa thành bất tử
Ông Vũ Thế Huyền, cựu Thanh niên xung phong Đại đội C130, chia sẻ ký ức về những năm tháng chiến đấu tại Bến phà II Long Đại. (Ảnh M.P).

"Đáng lẽ tên trên tấm bia kia phải là tôi...". Câu nói nghẹn lại của ông Vũ Thế Huyền, cựu thanh niên xung phong Đại đội C130, vang lên giữa không gian tĩnh lặng của Khu tưởng niệm Bến phà II Long Đại.

> Bài 1: Long Đại - "Chảo lửa" giữ mạch máu Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, dòng Long Đại vẫn lặng lẽ chảy qua đại ngàn Trường Sơn. Những hố bom năm nào đã phủ kín màu xanh cây lá. Nhưng với người cựu thanh niên xung phong ấy, thời gian dường như vẫn dừng lại ở buổi chiều ngày 19/9/1972.

Ông bước chậm đến trước tấm bia khắc tên liệt sĩ Bùi Năng Đắc, đưa bàn tay run run chạm lên từng con chữ. "Đáng lẽ vị trí này là tên tôi... chứ không phải anh Đắc...". Ông lặng người rất lâu. Đó không chỉ là nỗi đau mất đồng đội. Đó còn là món nợ ân tình mà suốt hơn 50 năm qua ông chưa một ngày thôi mang theo.

Ông Vũ Thế Huyền cùng người thân trở lại Bến phà II Long Đại - nơi ký ức về những ngày tháng "Sống bám cầu, bám đường - Chết kiên cường, dũng cảm" vẫn còn vẹn nguyên. (Ảnh: NVCC).
Ông Vũ Thế Huyền cùng người thân trở lại Bến phà II Long Đại - nơi ký ức về những ngày tháng "Sống bám cầu, bám đường - Chết kiên cường, dũng cảm" vẫn còn vẹn nguyên. (Ảnh: NVCC).

Một sự đổi việc làm thay đổi số phận

Sáng 19/9/1972, Đại đội C130 nhận nhiệm vụ như thường lệ. Một tổ xuống bến vận chuyển đá, một tổ lên rừng chặt cây làm hầm chữ A. Trong danh sách phân công hôm ấy, ông Bùi Năng Đắc lên rừng, còn ông Vũ Thế Huyền xuống bến. Nhưng trước giờ làm việc, hai người đổi nhiệm vụ cho nhau.

Đó chỉ là một sự đổi việc rất bình thường giữa những người đồng đội luôn sẵn sàng san sẻ cho nhau những phần việc nặng nhọc. Không ai nghĩ rằng quyết định ấy lại trở thành ranh giới giữa sự sống và cái chết.

Khoảng hơn 14h cùng ngày, khi 12 thanh niên xung phong đang có mặt trên bờ và 3 người khác chèo thuyền vận chuyển đá trên sông Long Đại, máy bay trinh sát Mỹ phát hiện mục tiêu. Pháo khói được bắn xuống đánh dấu bến phà, ngay sau đó là các tốp máy bay lao tới trút bom.

Ông Vũ Thế Huyền bên hầm chữ A tái hiện nơi các Thanh niên xung phong từng trú ẩn giữa mưa bom tại Bến phà II Long Đại. (Ảnh NVCC).
Ông Vũ Thế Huyền bên hầm chữ A tái hiện nơi các Thanh niên xung phong từng trú ẩn giữa mưa bom tại Bến phà II Long Đại. (Ảnh NVCC).

Tiếng còi báo động vang lên. Những người trên bờ lập tức chạy vào 2 hầm chữ A trú ẩn. Ba người đang chèo thuyền giữa dòng không còn kịp vào nơi tránh bom. Chỉ ít phút sau, những tiếng nổ dữ dội xé toạc không gian.

Khi bom ngớt, những người còn sống lao tới. Trước mắt họ không còn là 2 căn hầm nữa mà chỉ còn một hố bom sâu, đất đá bị cày tung, cây rừng gãy đổ ngổn ngang. Tiếng gọi đồng đội vang lên giữa khói bụi nhưng không có lời đáp.

Ông Vũ Thế Huyền vẫn nhớ như in hình ảnh cuối cùng của chị Xuyền nằm sát cửa hầm, đầu bị thương, đất đá đè kín. Mười hai người trong hai hầm chữ A đều hy sinh vì sức ép của trận bom.

Ngoài dòng Long Đại, 3 đồng đội chèo thuyền cũng không trở về. Sức công phá của bom khiến thi thể họ không còn nguyên vẹn. Đơn vị cùng người dân địa phương phải đào từng lớp đất, nhặt từng phần thi thể để đưa đồng đội về mai táng. Đó là một trong những buổi chiều đau thương nhất của Đại đội C130. Không chỉ bởi số người hy sinh quá lớn, mà bởi họ đều là những chàng trai, cô gái vừa bước qua tuổi mười tám, đôi mươi. Có người vừa gửi thư về cho mẹ, có người còn hẹn ngày trở về, có người vẫn đang viết dở lá thư gửi người thân...

Ông Vũ Thế Huyền trao tặng kỷ vật lưu niệm cho Khu di tích lịch sử quốc gia Bến phà II Long Đại. (Ảnh: NVCC).
Ông Vũ Thế Huyền trao tặng kỷ vật lưu niệm cho Khu di tích lịch sử quốc gia Bến phà II Long Đại. (Ảnh: NVCC).

Nỗi đau chưa kịp nguôi

4 ngày sau trận bom ngày 19/9/1972, máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá Bến phà II Long Đại. Trong đợt oanh tạc ngày 23/9, chiến sĩ Trần Mạnh Hà hy sinh khi đang làm nhiệm vụ.

Chỉ trong 2 trận bom liên tiếp, Đại đội C130 mất 16 thanh niên xung phong, gồm 9 nam và 7 nữ. 15 người được đưa về quê nhà, 1 người ở lại yên nghỉ trên mảnh đất Long Đại.

16 tuổi trẻ dừng lại giữa chiến trường, nhưng con đường Trường Sơn không bị cắt đứt. Những đoàn xe vẫn tiếp tục vượt trọng điểm, nối hậu phương với tiền tuyến, góp phần làm nên ngày toàn thắng của dân tộc.

Ở nơi từng được gọi là "chảo lửa", tuổi hai mươi của họ đã dừng lại, nhưng cũng từ mùa thu năm ấy, tuổi hai mươi ấy hóa thành bất tử.

Ông Vũ Thế Huyền chụp ảnh lưu niệm cùng ông Lê Ngọc Quang, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, tại lễ khánh thành Khu tưởng niệm 16 TNXP hy sinh tháng 9/1972. (Ảnh: NVCC).
Ông Vũ Thế Huyền chụp ảnh lưu niệm cùng ông Lê Ngọc Quang, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, tại lễ khánh thành Khu tưởng niệm 16 TNXP hy sinh tháng 9/1972. (Ảnh: NVCC).

“Tiếng hát Trường Sơn" còn mãi

Nếu trận bom ngày 19/9 cướp đi tuổi xuân của 15 thanh niên xung phong thì cũng để lại một chứng tích đặc biệt của lịch sử - một cuốn sổ nhỏ đã ngả màu theo năm tháng.

Trên trang đầu, bằng nét bút nắn nót của một chàng trai mới ngoài hai mươi tuổi, hiện lên bốn chữ: "Tiếng hát Trường Sơn".

Chủ nhân cuốn sổ là anh Bùi Năng Đắc, người con út trong gia đình 8 anh chị em ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ở quê nhà, Đắc được biết đến là cậu học trò chăm ngoan, học giỏi, viết chữ đẹp và đặc biệt có năng khiếu làm thơ.

Bằng "Tổ quốc ghi công" của liệt sĩ Bùi Năng Đắc - một trong 16 Thanh niên xung phong Đại đội C130 anh dũng hy sinh tại Bến phà II Long Đại tháng 9/1972. (Ảnh: NVCC).
Bằng "Tổ quốc ghi công" của liệt sĩ Bùi Năng Đắc - một trong 16 Thanh niên xung phong Đại đội C130 anh dũng hy sinh tại Bến phà II Long Đại tháng 9/1972. (Ảnh: NVCC).

Chị gái của liệt sĩ, bà Bùi Thị Kim Liên, kể rằng từ nhỏ, mỗi lần tan học, Đắc vừa đi vừa hát vang bài Chiếc gậy Trường Sơn. Tiếng hát của cậu vang khắp con ngõ nhỏ, đến mức chỉ cần nghe thấy là cả xóm biết Đắc đã đi học về. Có lẽ tình yêu quê hương, đất nước đã lớn lên trong cậu bé ấy từ rất sớm.

Năm 1971, khi vừa thi đỗ Trường Đại học Bách khoa, Đắc quyết định gác lại giảng đường để viết đơn tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong. Ngày lên đường, các chị ôm em trai khóc nghẹn. Đắc chỉ mỉm cười, vẫy tay rồi nói ngắn gọn: "Em phải đi".

Đó cũng là lần cuối cùng gia đình nhìn thấy người con trai út khỏe mạnh bước ra khỏi cổng nhà. Trong ba lô của anh Đắc không chỉ có quần áo, tư trang mà còn có cuốn sổ mang tên "Tiếng hát Trường Sơn".

Các đại biểu tham dự chương trình nghệ thuật "Lời tri ân - Dòng sông hóa lửa" tại Khu di tích lịch sử quốc gia Bến phà II Long Đại. (Ảnh: M.P.)
Các đại biểu tham dự chương trình nghệ thuật "Lời tri ân - Dòng sông hóa lửa" tại Khu di tích lịch sử quốc gia Bến phà II Long Đại. (Ảnh: M.P.)

Giữa những ngày san lấp hố bom, mở đường, dựng hầm và bảo đảm giao thông, chàng trai tuổi đôi mươi vẫn lặng lẽ viết thơ. Những câu thơ không chất chứa bi lụy, mà đầy niềm tin vào ngày đất nước thống nhất và khát vọng được trở về tiếp tục học tập, cống hiến.

Có lẽ cũng chính điều đó đã làm nên vẻ đẹp của một thế hệ thanh niên xung phong Trường Sơn. Họ hiểu mình đang đối diện với cái chết, nhưng chưa bao giờ thôi tin vào ngày mai. Họ vẫn hát. Vẫn làm thơ. Vẫn viết thư về cho gia đình. Vẫn nuôi dưỡng những ước mơ rất đỗi bình dị của tuổi hai mươi.

Ngày trở lại sau hơn nửa thế kỷ

Năm 1975, ông Bùi Minh Đức, anh trai liệt sĩ Bùi Năng Đắc, vào Long Đại đưa em về quê an táng. Nhiều năm sau, ông tiếp tục trở lại nơi này. Nhưng chỉ đến khi Khu tưởng niệm Bến phà II Long Đại được tôn tạo khang trang, cảm xúc mới thực sự vỡ òa.

Các đại biểu, cựu thanh niên xung phong, thân nhân liệt sĩ và đoàn viên, thanh niên chụp ảnh lưu niệm tại Khu di tích lịch sử quốc gia Bến phà II Long Đại sau chương trình “Lời tri ân - Dòng sông hoa lửa”. (Ảnh: NVCC).
Các đại biểu, cựu thanh niên xung phong, thân nhân liệt sĩ và đoàn viên, thanh niên chụp ảnh lưu niệm tại Khu di tích lịch sử quốc gia Bến phà II Long Đại sau chương trình “Lời tri ân - Dòng sông hoa lửa”. (Ảnh: NVCC).

Giữa khuôn viên di tích, bức tượng Bùi Năng Đắc được đặt trang trọng trong tư thế ngồi, tay mở cuốn nhật ký, ánh mắt hướng về dòng Long Đại. Phía sau là bài thơ "Trở về" được khắc trên bia đá.

Nhìn gương mặt em trai sau hơn nửa thế kỷ, bà Bùi Thị Thảo òa khóc. Bà ôm lấy bức tượng, run run vuốt khuôn mặt bằng đồng rồi nghẹn ngào: "Đúng là em tôi rồi... Cái cằm này... gương mặt này...".

Ông Bùi Minh Đức đứng lặng rất lâu, người anh không còn khóc thành tiếng. Ông chỉ khẽ nói: "Ấm lòng lắm... Chỉ tiếc mẹ tôi không còn để chứng kiến ngày hôm nay...".

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Dòng Long Đại vẫn chảy về biển như chưa từng chứng kiến những trận bom đạn. Nhưng dưới bóng tượng đài 16 bông lúa, những chàng trai, cô gái tuổi hai mươi năm ấy dường như vẫn còn hiện diện. Họ hiện diện trong từng trang nhật ký còn lưu giữ. Trong những câu thơ viết dở. Trong ký ức của đồng đội. Trong nước mắt của những người thân mỗi lần trở lại. Và trên hết, họ hiện diện trong sự bình yên của đất nước hôm nay.

Còn tiếp

Minh Phương