BẢO VỆ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TRƯỚC "GIẶC TƯ TƯỞNG" TRONG KỶ NGUYÊN MỚI:

Bài 1: Khối đại đoàn kết toàn dân - Cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt

Bài 1: Khối đại đoàn kết toàn dân - Cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt
Đại đoàn kết toàn dân là truyền thống quý báu của dân tộc ta (Ảnh: Gia Hải).

LTS: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã chuyển sang phương thức với nhiều lớp nguỵ trang tinh vi và các biến thể khác nhau, núp dưới danh nghĩa “phản biện xã hội”, “đòi hỏi dân chủ”, “tự do ngôn luận”, nhằm từng bước làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước mối nguy về “giặc tư tưởng” này, việc phát hiện, nhận diện, phản biện là hết sức cấp thiết, có vai trò là yếu tố quyết định then chốt trong tiến trình củng cố, bảo toàn và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân, vốn là cội nguồn sức mạnh của đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên một truyền thống vô cùng quý báu: tinh thần yêu nước gắn liền với ý chí gắn kết cộng đồng, đoàn kết toàn dân tộc. Chính từ sức mạnh đoàn kết ấy, dân tộc ta đã vượt qua biết bao thử thách khắc nghiệt của thiên tai, chiến tranh, ngoại xâm để bảo vệ non sông, giữ gìn bản sắc và phát triển đất nước. Khối đại đoàn kết toàn dân vì thế không chỉ là một giá trị lịch sử, mà còn là cội nguồn sức mạnh tạo lên quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam hơn 4000 năm qua cũng như những giai đoạn hào hùng làm chấn động địa cầu sau này.

Hình minh hoạ.
Hình minh hoạ.

Lịch sử dân tộc cũng cho thấy, mỗi khi đất nước đứng trước vận mệnh sinh tử, tinh thần đoàn kết dân tộc lại được phát huy mạnh mẽ. Ngay từ những ngày đầu dựng nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng đã trở thành nền tảng tồn tại của dân tộc. Trong quá trình chinh phục thiên nhiên, trị thủy, khai phá ruộng đồng và xây dựng các làng xã đầu tiên, cư dân Việt cổ hiểu rằng chỉ có gắn bó, nương tựa và đồng lòng mới có thể sinh tồn. Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” không đơn thuần là một câu chuyện dân gian mà còn phản ánh sâu sắc ý thức cộng đồng, ý thức cùng chung cội nguồn của dân tộc Việt Nam.

Và mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, sức mạnh đại đoàn kết lại bừng lên mạnh mẽ như một ngọn lửa không gì có thể dập tắt. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc là hơn một nghìn năm nhân dân ta kiên cường chống lại âm mưu đồng hóa của các triều đại phong kiến phương Bắc. Từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến chiến thắng Bạch Đằng lịch sử của Ngô Quyền năm 938, tất cả đều được tạo nên bởi sức mạnh của lòng dân. Không có sự đồng tâm hiệp lực của nhân dân, dân tộc Việt Nam khó có thể giữ được tiếng nói, văn hóa và chủ quyền của mình sau hàng thế kỷ bị đô hộ.

Bước vào thời kỳ phong kiến độc lập, tinh thần đại đoàn kết tiếp tục được nâng lên thành tư tưởng trị quốc và giữ nước. Các triều đại Lý, Trần, Lê đều đặc biệt coi trọng việc “khoan thư sức dân”, lấy dân làm gốc để xây dựng quốc gia hưng thịnh.

Từ Hội nghị Diên Hồng thời Trần với lời hô vang “đánh”, thể hiện ý chí đồng lòng của toàn dân chống giặc Nguyên - Mông; đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn quy tụ hào kiệt bốn phương; hay phong trào Tây Sơn gắn kết nhân dân đứng lên thống nhất đất nước, tất cả đều minh chứng rằng sức mạnh Việt Nam trước hết là sức mạnh của lòng dân, của sự đồng tâm hiệp lực giữa các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và tôn giáo.

Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, sức mạnh đại đoàn kết lại bừng lên mạnh mẽ như một ngọn lửa không gì có thể dập tắt (Ảnh: Gia Hải).
Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, sức mạnh đại đoàn kết lại bừng lên mạnh mẽ như một ngọn lửa không gì có thể dập tắt (Ảnh: Gia Hải).

Đặc biệt, trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, nhà Trần đã phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc. Hội nghị Diên Hồng không chỉ là một sự kiện chính trị mà còn là biểu tượng bất diệt của tinh thần đồng lòng vì non sông đất nước. Từ vua quan, tướng sĩ đến người dân bình thường đều chung một ý chí “sát Thát”, tạo nên những chiến thắng vang dội làm rạng danh dân tộc Việt Nam trong lịch sử quân sự thế giới.

Chính sự gắn bó giữa triều đình và nhân dân, giữa ý Đảng và lòng dân theo nghĩa rộng của lịch sử, đã hình thành nên bức tường thành kiên cố bảo vệ Tổ quốc trước mọi cuộc xâm lăng.

Đến thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống ấy được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển lên một tầm cao mới và trở thành hệ thống tư tưởng lớn của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Tinh thần đại đoàn kết toàn dân trở thành một trong những nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh (Hình minh hoạ).
Tinh thần đại đoàn kết toàn dân trở thành một trong những nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh (Hình minh hoạ).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng. Người luôn nhấn mạnh phải lấy dân làm gốc, coi nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, từ đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến cứu nước đến xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối đoàn kết toàn dân luôn được Đảng ta quán triệt và vận dụng sáng tạo.

Tư tưởng ấy vừa là sự đúc kết sâu sắc từ thực tiễn lịch sử dân tộc, vừa là chân lý có giá trị bền vững đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Bài 1: Khối đại đoàn kết toàn dân - Cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt

“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”

– Chủ tịch Hồ Chí Minh --

Tại Thư gửi đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ và cán bộ miền Nam ngày 6/9/1967, nhân dịp Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh chính trị, Người viết:

“Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Bản Cương lĩnh chính trị của Mặt trận là ngọn cờ đại đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam để cùng nhau chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng. Nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa!”

Cũng không ít lần, để nhấn mạnh, kêu gọi tinh thần đại đoàn kết và khơi dậy lòng yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nói “Hỡi đồng bào cả nước”, đặc biệt là trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đó không đơn thuần là một cách nói, mà là sự khẳng định thiêng liêng về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; giữa cá nhân với vận mệnh dân tộc.

Hai tiếng “đồng bào” từ đó trở thành biểu tượng của tinh thần gắn kết máu thịt giữa con người Việt Nam với nhau, bất kể vùng miền, dân tộc hay tín ngưỡng. Để rồi, hàng nghìn, hàng triệu đồng bào - những người con của đất nước bất kể già trẻ gái trai, bất kể dân tộc vùng miền, cũng chẳng phân biệt tôn giáo tín ngưỡng, tầng lớp… tất cả đều xung phong ra chiến trường để bảo vệ Tổ quốc, họ “sẵn sàng quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” để lại “sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”….

“Đồng bào” có nghĩa là cùng một bọc trăm trứng, cùng chung cội nguồn, huyết thống và vận mệnh dân tộc. Đây không chỉ là một cách xưng hô, mà là một triết lý chính trị - văn hóa đặc sắc của người Việt Nam suốt hàng nghìn năm lịch sử.

Với người Việt Nam, chỉ cần 2 tiếng “đồng bào” được cất lên, mọi khoảng cách về vùng miền, dân tộc, tôn giáo hay địa vị xã hội đều được xoá bỏ, bởi tất cả người Việt Nam đều là anh em trong cùng một đại gia đình của dân tộc; cùng chảy trong mình “dòng máu Lạc Hồng”. Có thể nói, “đồng bào” chính là từ ngữ biểu hiện rõ nét nhất củatư tưởng“lấy dân là gốc” của Đảng và Nhà nước ta.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc hay thành phần xã hội đều được tập hợp trong mặt trận thống nhất vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chính sức mạnh đại đoàn kết ấy đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời, giúp dân tộc ta vượt qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Có thể khẳng định rằng: Khối đại đoàn kết toàn dân chính là cội nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô giá được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong bất kỳ giai đoạn nào, khi lòng dân quy tụ, ý chí toàn dân hòa làm một thì dân tộc Việt Nam sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Giữ gìn và phát huy truyền thống đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chiến lược của cách mạng mà còn là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người Việt Nam hôm nay đối với tương lai trường tồn của dân tộc.

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta qua các kỳ đại hội đều đặc biệt coi trọng việc củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây không chỉ là định hướng chính trị có ý nghĩa chiến lược mà còn thể hiện tầm nhìn phát triển đất nước trong giai đoạn mới, khi Việt Nam bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Sinh thời, cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhiều lần nhấn mạnh vai trò quyết định của nhân dân và sức mạnh đoàn kết dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ông khẳng định: Dân là gốc, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới.

Trong phát biểu tại Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam, ông nhấn mạnh yêu cầu phải “phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Những quan điểm đó sau này tiếp tục được Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh trong những buổi làm việc trọng đại của Đảng và Nhà nước.

Tại Đại hội Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương, ông tiếp tục nhấn mạnh “khối đại đoàn kết toàn dân tộc thực sự là nguồn lực vô tận cho một Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc”.

“Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống, là tài sản, là di sản vô giá của cha ông, là sức mạnh làm nên mọi thắng lợi, mọi thành tựu của dân tộc ta, đất nước ta”.

-- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm --

Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, yêu cầu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó là nền tảng để giữ vững ổn định chính trị - xã hội; là điều kiện tiên quyết để huy động mọi nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững; là sức mạnh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thực tiễn công cuộc đổi mới cho thấy, mọi thành tựu của đất nước đều gắn liền với việc phát huy sức mạnh của nhân dân. Từ xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phòng chống đại dịch Covid-19 đến phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, tất cả đều đòi hỏi sự đồng thuận xã hội và tinh thần đoàn kết, chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc Việt Nam. Đại đoàn kết toàn dân từ đó không chỉ là là truyền thống quý báu của dân tộc mà còn là đường lối chiến lược của Đảng, là cội nguồn sức mạnh của đất nước.

Đặc biệt, trong kỷ nguyên mới, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; chăm lo hài hòa lợi ích giữa các giai tầng xã hội; bảo đảm công bằng xã hội; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Đồng thời, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cùng hướng về mục tiêu chung xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Để rồi, khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, khi khát vọng phát triển trở thành ý chí chung của toàn dân tộc, thì sức mạnh đại đoàn kết sẽ tiếp tục là động lực to lớn đưa đất nước vững bước tiến vào tương lai. Có như vậy, mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta hướng tới, mong chờ mới được hiện thực hoá, có như vậy, những “nấc thang” tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa mới ngày một gần và nằm gọn trong tương lai của dân tộc Việt Nam.

(Còn tiếp…)

Q.Cường - G.Hải - M.Thiết - H.Dung - Q.Anh - M.Đức - H.Thương