Ba trăm ngày đấu tranh sôi sục quyết liệt, giải phóng hoàn toàn thành phố (tiếp theo)

Phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực dân Pháp chịu thừa nhận thất bại cay đắng trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Từ đó nảy sinh tư tưởng hoang mang, chán chường trong hàng ngũ sĩ quan, binh lính địch. Hàng ngũ địch bắt đầu rạn nứt, tan vỡ. Nắm lấy thời cơ này, ta đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối chính nghĩa và chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ ta, phát động phong trào toàn dân làm công tác địch vận, tiến công mạnh mẽ làm tan rã thêm hàng ngũ binh lính địch, kết hợp với đấu tranh thi hành hiệp định.

Công tác địch vận ở Hải Phòng- Kiến An trong những năm tháng chiến đấu rất sôi nổi. Trên cơ sở kinh nghiệm đã có, tỉnh ủy Kiến An và Thành ủy Hải Phòng đã tập trung chỉ đạo, nhanh chóng chấn chỉnh các ban địch vận từ tỉnh xuống cơ sở, điều động nhiều cán bộ, đảng viên có kinh nghiệm từ các vùng đã được giải phóng bổ sung cho nội thành, nội thị và các huyện còn tạm bị địch chiếm; vạch kế hoạch đấu tranh cụ thể với từng đối tượng. Với lính ngụy khẩu hiệu vận động là 'đào ngũ về với gia đình làm ăn', với lính Âu Phi là 'Hòa bình và hội hương'.

Phong trào vận động binh lính địch ở Hải Phòng- Kiến An nhanh chóng phát triển lên tới đỉnh cao. Quần chúng sáng tạo nhiều hình thức đấu tranh phong phú để làm sụp đổ, tan rã tinh thần binh lính địch. Nhân dân thường kéo đến các vị trí tập kết quân của địch hỏi tin tức, kêu khóc, đòi chồng, đòi con. Có cuộc ta huy động tới 3.000 quần chúng đấu tranh kiên trì hàng tuần, hàng tháng để làm tan rã từng đại đội, tiểu đoàn địch. Nhân dân và gia đình có người đi lính mang theo cơm, gạo đến nằm lỳ xung quanh doanh trại địch hết ngày này qua ngày khác, đòi ký được chồng, con trở về mới chịu giải tán.

Do công tác tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ, được quần chúng nhân dân tham gia hăng hái nhiệt tình và do khẩu hiệu phù hợp với quyển lợi, nguyện vọng hòa bình của binh lính và gia đình họ, cùng với chính sách đối xử của ta hết sức nhân dạo, tạo điều kiện cho những người lầm đường có lối thoát về làm người dân lương thiện, nên chỉ một sáng sau khi ngừng bắn, ở các huyện thuộc tỉnh Kiến An đã có 3.581 binh lính và 23 đại đội lính ngụy quay súng trở vê với nhân dân. ở Hải Phòng và huyện Thủy Nguyên có 5.030 lính cùng tiểu đoàn pháo binh Núi Đèo, một đại đội địa phương quân rời bỏ hàng ngũ địch. Tổng cộng số lính ngụy đào, rã ngũ trong năm 1954 là 12.733 tên.

Trong thời gian 300 ngày, công tác địch vận của nhân dân Hải Phòng , Kiến An đã làm tan rã hầu hết khối quân ngụy tập kết ở Hải Phòng- Kiến An.

Đối với lính Âu Phi, ta tìm cách tuyên truyền làm cho họ nhận rõ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta, vận động phong trào phản chiến, không chấp hành mệnh lệnh của bọn chỉ huy, hông chấp hành mệnh lệnh của bọn chỉ huy,không tham gia những vụ đàn áp, khủng bố quần chúng và đòi hồi hương.

Cũng trong thời gian này ta tổ chức những cuộc trả tự do cho nhiều hàng binh và phóng thích từ binh Âu Phi.

ngày 4 tháng 8 năm 1954, ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Kiến An đã trả tự do cho 90 hàng binh. Ngày 2 tháng 9 năm 1954, tiếp tục phóng thích hai tù binh và trả tự do cho hai hàng binh nữa.

Công tác vận động binh lính Âu Phi của ta dã gây tác động mạnh mẽ đến tinh thần binh lính địch. 13 cuộc đấu tranh đòi hồi hương của lính Âu Phi đã thắng lợi. Tiểu đoàn da đen 22, 120 lính Ma Rốc đóng ở Khinh Giao, 435 lính Âu phi đóng ở Rế, Đồng Giới và 48 lính thuộc tiểu đoàn 14 ở trại pháo thủ và 120 lính Thái đóng ở nhà máy gạch Quỳnh Cư đấu tranh quyết liệt, buộc bọn chỉ huy phải cho hồi hương trước thời hạn.

Thắng lợi của công tác địch vận đã đánh thẳng vào tinh thần quân đội dịch, góp phần làm cho khối ngụy quân của giặc Pháp trên miền Bắc tan rã, lôi kéo được một lực lượng lớn về với nhân dân, kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Một trong những âm mưu xấu xa, tàn bạo của đế quốc Mỹ và bọn thực dân Pháp là dùng mọi thủ đoạn lừa bịp và cưỡng bức đồng bào công giáo di cư vào Nam. Chúng đã gây ra bao thảm cảnh chia ly đầy tủi hờn trong đồng bào ta. Để thực hiện âm mưu lâu dài của chúng nhằm xé bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ, chia cắt lâu dài đất nước ta, chúng lợi dụng việc lôi kéo, cưỡng bức giáo dân vào Nam đề tuyên truyền nói xấu miền Bắc và từ trong số đồng bào di cư chúng khai thác nguồn thanh niên để bắt lính sau này.

Chúng đưa lực lượng quân sự đi hộ tống cho bọn phản động đội lốt cha cố, tu sĩ về các nhà thờ tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ ta. Chúng nói: 'Cộng sản phá đạo', 'Chúa đã vào Nam mang hết linh hồn của chiên vòa Nam', 'Di Nam không phải là theo Pháp' và 'khi Pháp rút hết Mỹ sẽ bỏ bom nguyên tử'... Chúng còn cho bọn tay chân dùng các thủ thuật ma qủy hiện hình và đêm đêm đến từng nhà hỏi 'bao giờ thì đi', đe dọa nếu không đi chúng 'sẽ giết','sẽ phá nhà'. Những luận điệu lừa bịp và thủ đoạn khủng bố của chúng đã làm cho đồng bào ta hoang mang, lo sợ. Hàng vạn đồng bào ta ở khắp các tỉnh trên miền Bắc phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn, họ hàng, làng mạc tập trung về Hải Phòng đón tàu đi Nam.

Đồng bào các tỉnh bị dồn về Hải Phòng sống chen chúc, đói khổ trong các lều viện trợ Mỹ ở các bãi cỏ sông Lấp và khu vực Thượng Lý. Bọn nhà thầu với danh nghĩa 'Bắc Việt vụ', 'Đấng bề trên', 'ủy ban di cư Bắc Việt' như một bầy dòi bọ bâu vào kiếm ăn chung quanh các qũy viện trợ Hoa Kỳ gồm toàn gạo mục Sài Gòn và cá khô thối.

Thời gian này Mỹ huy động nhiều phương tiện vận tải quân sự để chở đồng bào từ các nơi về Hải Phòng. Trong gần một năm, hai chiếc tàu APA Mơ-na và Giê-nê-ran đã chở 500.000 giáo dân và các tàu chiến Pháp chở 214.000 giáo dân từ Hải Phòng đi Nam.

Phân tích cụ thể âm mưu địch., hội nghị Ban thường vụ Khu ủy Tả Ngạn ngày 18 tháng 8 năm 1954 đã đề ra chủ trương: 'Tích cực giải thích vận động giáo dân ở lại nhà, không để giáo dân đi Nam, phá âm mưu lợi dụng công giáo, chia rẽ dân tộc. Thực hiện âm mưu dùng người Việt đánh người Việt hòng gây lại chiến tranh, phá hoại việc thực hiện Hiệp định của đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm.

Phương châm công tác: Tuyên truyền dân vận giải thích là chính. Lãnh đạo đấu tranh cô lập vạch mặt tay chân dịch.

Khẩu hiệu vận động: Bám sát đồng ruộng quê hương, an tâm giữ đạo.

Thi hành chủ trương của Ban thường vụ Khu ủy, đảng bộ Hải Phòng và Kiến An đã huy động lực lượng vũ trang và cán bộ các đoàn thể phân tán về các làng công giáo để tuyên truyền, giáo dục cho đồng bào nhận rõ âm mưu địch, vạch trần thủ đoạn của chúng.

Tiểu đoàn 204 Kiến An phân tán về các thôn An Qúy, Vạn Hoạch, Cổ Am, Hội Am. Đại đội 112 phân tán về các thôn áng Ngoại, Cốc Rom, Xuân Cốc, huyện Vĩnh Bảo, Đại đội 196 phân tán về các thôn Đông Côn, Đông Xuyên, Xuân Quang, Thúy Nẻo, huyện Tiên Lãng. Các đơn vị bộ đội huyện Kiến Thụy, An Lão, An Dương, Thủy Nguyên phân tán luốn sâu vào các thôn công giáo trong vùng tạm bị địch chiếm xung quanh Hải Phòng, Kiến An.

Bị bọn cha cố phản động mê hoặc, lừa bịp, khi thấy cán bộ, bộ đội về làng, các gia đình giáo dân, kể cả một số gia đình là cơ sở trong kháng chiến cũ, đã bỏ nhà cửa. Vợ chồng con cái bồng bế nhau kéo đến nhà thờ ở tập trung, chôn giấu hết nồi niêu, bát đĩa không để cho bộ đội dùng. Nhiều gia đình còn đổ nước vào rơm, củi để bộ đội không có thứ đun nấu. Khi bộ đội ta làm công tác tuyên truyền giáo dục, bà con không nghe, nhiều người bị phần tử xẫu xúi giục gây xung đột, đánh đập bộ đội, cán bộ. Nhiều đồng chí bộ đội bị thương nặng, có đồng chó bị chém sả vai.

Mặc dù bị đồng bào đối xử hắt hủi, không chịu tiếp xúc, nhưng cán bộ và bộ đội ta vẫn kiên trì vạch rõ âm mưu địch, vạch mặt những phần tử xấu đã lợi dụng mê tín, thần quyền để ép buộc đe dọa đồng bào, giải thích chính sách tự do tín ngưỡng của Chính phủ ta cho nhân dân hiểu. Mặt khác, bằng những hành động thực tế, cán bộ, bội đội đến từng nhà thu dọn đồ đạc, của cải, cất giữ chu đáo cho đồng bào, chăm sóc lợn gà, vườn, ao, tuyệt đối không xâm phạm đến cái kim, sợi chỉ của dân. Có nơi ta đã mời được cha cố về nhà thờ làm lễ cho đồng bào.

Với những hành động hết sức tận tình phục vụ của cán bộ, chiến sĩ, ta đã làm cho nhiều người tỉnh ngộ, nhận rõ lẽ phải. Do vậy mà từ chỗ đồng bào công giáo sôi sục chuẩn bị đi Nam, sau một thời gian được ta kiên trì giáo dục, nhiều người đã cùng với cán bộ, bộ đội đi tuyên truyền vận động giải thích cho những người khác an tâm ở lại quê hương làm ăn.

Ta còn đưa một số lớn cán bộ bí mật thâm nhập các trại tập trung đồng bào di cư ở nội thành để hàng ngày đi sát tuyên truyền,giáo dục đồng bào.

Trước cảnh xảy nhà ra thất nghiệp, trước cảnh cướp bóc trắng trợn của kẻ thù, nhận rõ bộ mặt giả nhân, giải nghĩa của những cha cố phản động và được sự tuyên truyền giải thích của ta, nhiều gia đình nhận ra lẽ phải, tìm cách trốn khỏi trại, trở về làng xóm quê hương.

Tháng 9 đã có 335 gia đình bỏ trại và tháng 10 số gia đình bỏ trại di cư lên tới 1.200. Một cụ già trên 70 tuổi ở xứ Đôngg Giới, An Dương bỏ trại di cư về nói với bà con hàng xóm 'Tôi theo đạo, tôi tin đạo, nhưng tôi không tin người truyền đạo nói bậy'.

Lòng nhân ái của Bác Hồ, cùng với đường lối đúng đắn, sáng ngời chính nghĩa của Đảng và Nhà nước ta đã giúp cho hàng chục vạn đồng bào quay vê, yên tâm ở lại cùng làng xóm quê hương, không chịu để cho giặc cưỡng ép di Nam.