Ba trăm ngày đấu tranh sôi sục quyết liệt, giải phóng hoàn toàn thành phố
Ba trăm ngày đêm đấu tranh trong khu vực địch tập kết. Thắng lợi của Hiệp định Giơ-ne-vơ đã cổ vũ khí thế cách mạng của toàn dân, toàn quân ta. Không khí phấn khởi đón mừng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, thành quả của bao năm kháng chiến hy sinh, gian khổ đem lại tràn ngập khắp nơi. Trên cơ sở niềm vui chung đó, quân dân Hải Phòng-Kiến An sẵn sàng khí thế bước ngay vào cuộc đấu tranh mới đầy gian khổ,quyết liệt.
Hiệp định Giơ-ne-vơ buộc quân Pháp phải rút hẳn khỏi miền Bắc nước ta. Thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, hội nghị quân sự giữa đại biểu Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và đại biểu bộ tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương họp tại Trung Giã quy định khu vực tập kết 300 ngày ở vùng duyên hải Bắc Bộ bao gồm Hải Phòng, Kiến An, Hồng Quảng và hai huyện Kinh Môn, Kim Thành thuộc tỉnh Hải Dương cho quân đội Pháp. Lịch rút quân của chúng cũng được quy định rõ từng ngày.
Hải Phòng đã từng là cái đầu cầu đổ bộ của quân đội thực dân Pháp xâm lược lên miền Bắc, giờ đây lại là cái túi đựng mọi thứ sắc lính của đoàn quân chiến bại. Chúng dồn về Hải Phòng các bộ tư lệnh không quân, hải quân, lục quân Bắc Việt, các loại đơn vị, những tên trùm sỏ ngụy quyền ở Miền Bắc, bọn phản động tay sai, các loại hội tề, cùng những bọn tầm gửi sống bám vào đội quân viễn chinh...
Thành phố, Hải Phòng còn tràn ngập những thứ rác rưởi của chủ nghĩa thực dân như lưu manh, gái điếm, bọn đi lừa đảo..Lính Pháp, lính ngụy, súng ống, xe cộ chật ních đường phố Hải Phòng. Đội quân bại trận vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu, mang theo sự tủi nhục, chán đời, sống gấp, chúng dẫm đạp, đánh lẫn nhau để cướp bóc, phá phách thành phố trong những ngày chờ xuống tàu, cuốn gói ra đi.
Thực dân Pháp vì thất bại mà buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhưng với bản chất phản động, ngoan cố, chúng câu kết với đế quốc Mỹ, tìm mọi cách làm hạn chế thắng lợi của ta. Chúng ra sức thực hiện âm mưu phá hoại có hệ thống miền Bắc ngay từ khi chữ ký của Hiệp định chưa ráo mực. Thực dân Pháp đưa tên tướng Bri-gát Bu-lác tư lệnh phó lục quân Bắc Bộ về thay tên đại tá Nê-mô chỉ huy khu vực Hải Phòng. Chúng tung tay chân đi phá hoại vùng giải phóng, ra sức củng cố hệ thống do thám, gián điệp, gài lại những tên phản động tay sai phục vụ cho kế hoạch đánh chiếm trở lại miền Bắc sau này. Chúng rút gọn các đồn, bốt lẻ về đóng tập trung, tăng cường vây ráp, khủng bố, cất vó cán bộ, phá cơ sở, bắt thanh niên vào lính và cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam.
Chỉ trong bốn tháng sau khi ký hiệp định, bọn Pháp ở Hải Phòng đã liên tiếp vi phạm hiệp định đình chiến, tiến hành 133 cuộc vây ráp, hơn hai trăm lần nổ súng vào các khu dân cư. Chúng đã bắt 852 thanh niên công giáo vào lính bảo vệ Chúaaaa, giam giữ 517 người dân, bắn chết chín người, đánh bị thương 167 người khác.
Bên cạnh nhà binh và mật thám Pháp, đế quốc Mỹ đã phái tên tướng Cô-lin đến Hải Phòng cùng với trên hai trăm chuyên viên, cố vấn Mỹ để tăng cường mọi hoạt động phá hoại đối với miền Bắc.
Bọn cố vấn Mỹ hàng ngày đạo diễn mọi hành động của Pháp và trực tiếp nắm tên Lê Quang Luật, đại diện Ngô Đình Diệm ở Hải Phòng, vạch kế hoạch phá hoại khu vực tập kết 300 ngày. Chúng dùng mọi thủ đoạn tuyên truyền lừa bịp, đi đôi với đe dọa, cưỡng bức, hòng đưa được nhiều binh lính, tay sai phản động và đồng bào công giáo di cư vào
Kế hoạch phá hoại điên cuồng của thực dân Pháp bại trận cộng với với âm mưu đen tối và thủ đoạn nham hiểm của đế quốc Mỹ-tên thực dân mới đầy tham vọng, tạo nên sức ép nặng nề đối với cuộc đấu tranh của quân dân thành phố.
Nhận rõ tính chất đấu tranh quyết liệt trong khu vực địch tập kết, để thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 mở rộng họp từ 15 đến 18 tháng 7 năm 1954 về nhiệm vụ tiếp thu vùng mới giải phóng, đặc biệt là tiếp thu và quản lý các thành thị, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban chỉ đạo khu 300 ngày và phân công đồng chí Đỗ Mười, ủy viên Trung ương Đảng, trực tiếp làm Trưởng ban.
Ban chỉ đạo khu 300 ngày, với sự tham gia của Tỉnh ủy Kiến An, Thành ủy Hải Phòng, đã phân tích tình hình và đề ra những nhiệm vụ cấp bách trước mắt phải làm. Phải tập trung chỉ đạo tăng cường cán bộ cho nội thành vì việc đấu tranh với địch, tiếp quản một thành hpố công nghiệp lớn là điều rất mới mẻ, phức tạp. Đi đôi với việc hướng dẫn công tác tổ chức lực lượng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống địch, ban chỉ đạo đã quán triệt cho mọi cấp về ý nghĩa to lớn của công tác tiếp quản thành phố lớn mà Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9 năm 1954 đã xác định rõ: Việc chúng ta tiếp quản được thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, khiến chúng ta không những có nông thôn mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp...đó là một biến đổi to lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết quy mô một quốc giaaaa.
Học tập kinh nghiệm đấu tranh và tiếp quản thành phố Hà Nội và được ạư chỉ đạo kết sức chặt chẽ của Trung ưong đảng, của Khu ủy Tả ngạn và Ban chỉ đạo khu 300 ngày. Thành ủy Hải Phòng và tỉnh ủy Kiến An đã tiến hành giáo dục cho cán bộ, đảng viên, quần chúng hiểu rõ bản chất, âm mưu của địch, quán triệt tình hình, nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ mới, xác định phương châm, phương pháp đấu tranh chống địch, đồng thời từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, quản lý hành chính và xã hội của địa phương để tiếp quản thành phố.
Khu vực 300 ngày tập kết của địch trở thành nơi đấu trí, đấu lực quyết liệt và rất phức tạp giữa hai thế lực cách mạng và phản cách mạng.
Sau khi ngừng bắn, ta mở đợt tuyên truyền rộng lớn, khuyếch trương thắng lợi của Hiệp địinh Giơ-ne-vơ, hòa bình được lập lại ở Đông Dương, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng.
Ở các vùng giải phóng, ta tổ chức mít tinh lớn biểu dương lực lượng. Khắp nơi dựng cổng chào, treo cờ, kết hoa, tổ chức học Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi Hội nghị Giơ-ne-vơ thành công. ở các vùng còn tạm bị địch chiếm, ta tăng cường cán bộ và các đội võ trang tuyên truyền xuống từng cơ ở, nơi có điều kiện thì tổ chức mít tinh cổ động, nơi không có điều kiện thì giải thích qua các đoàn thể, mạn đàm, tán phát tài liệu, báo chí. Đi đôi với công tác tuyên truyền, ta tích cực xây dựng các đoàn thể cứu quốc và lực lượng dân quân tự vệ tại chỗ, để làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống hành động vi phạm hiệp định của địch.
Trong không khí phấn khởi của quần chúng cách mạng, ta huy động hàng ngàn người đi đắp đê Trung Trang và Kim Côn trong vùng địch còn kiểm soát. Bộ đội và nhân dân các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng đắp đê sông Luộc, sông Hóa, tích cực chống bão lụt, bảo vệ lúa mùa, khai hoang phục hóa đẩy mạnh tăng gia sản xuất hàn gắn vết thương chiến tranh.
Để tăng cường công tác đấu tranh với địch ở trong nội thành, ta đưa một số đồng chí thành ủy viên và tăng cường 80 cán bộ cốt cán vào hoạt động hợp pháp. Thành lập ban cán sự nội thành để thống nhất lãnh đạo và kịp thời đối phó với những diễn biến của tình hình. Chỉ sau một thời gian ngắn, ta đã khôi phục cơ sở ở hầu khắp các xí nghiệp, đường phố, đặc biệt là đã tổ chức được lực lượng tự vệ ở các xí nghiệp lớn trong nội thành như: xí nghiệp cảng có 34 tự vệ, nhà máy xi măng 56 tự vệ, nhà máy đèn 8 tự vệ, sở toa xe 24 tự vệ...
(còn nữa)