Ấn tượng “Người lính và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng”
Được xem buổi tổng duyệt chương trình “Người lính và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng” của Đoàn nghệ thuật quân khu Ba trước thềm hội diễn các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân năm 2008, tôi thực sự có thêm nhiều hy vọng vào sự phát triển của sân khấu ca múa nhạc.
Không chỉ vì phong cách nghệ thuật ở một đoàn chuyên nghiệp, mà còn vì sức trẻ nghệ thuật được tạo nên từ chính lực lượng biểu diễn. Đó là một dàn diễn viên đồng đều, nổi trội về thanh sắc, trong đó có các diễn viên múa.
Sức thanh xuân của diễn viên tỏa thứ ánh sáng sinh động và làm mát dịu con mắt nhìn đối với 12 tiết mục. Dù ở hình thức biểu diễn đơn ca, song ca, hay hát múa, tốp ca nam nữ… thì đó cũng là những tiết mục bám sát chủ đề và mang màu sắc riêng của một chương trình về “người lính và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng”. Bên cạnh dư âm khỏe khoắn, dí dỏm của những người lính trẻ trong ca khúc “Hòa âm người lính”, đa số các tiết mục đều khai thác tối đa chất liệu dân gian. Đặc điểm này được thể hiện ngay từ khâu chọn tiết mục đến nghệ thuật dàn dựng. Có thể thấy, bên cạnh những bài hát mà ca từ và giai điệu thấm đượm âm hưởng dân gian như “Bên dòng sông Cái” của Phó Đức Phương, “Trống quân người lính” của Nguyễn Cường, “ông xẩm làng tôi”, “Trăng đêm nay sáng tỏ” của An Thuyên, “ Lời ru đồng bằng” của Đỗ Hồng Quân... các tiết mục múa của đoàn cũng rất ấn tượng về khả năng khai thác, phát triển chất liệu dân gian của các biên đạo múa trẻ Trung Hiếu, Mai Linh, Huyền Trang… Nếu múa ở màn hòa tấu mở màn “Bạch Đằng Giang” là sự chuyển động của hình khối, màu sắc, đặc biệt là những chiếc cọc tre trong nhịp “dô khoan” trên nền bộ gõ, tạo âm hưởng hoành tráng, sử thi, thì ở các tiết mục múa độc lập như “Chú Tễu”, “Mõ tre”, “Hò biển”… lại sâu lắng, trữ tình. Múa “Chú Tễu” đậm chất phong vị đồng quê qua nghệ thuật cách điệu mái thủy đình của sân khấu múa rối nước và một số trò diễn cổ truyền vốn là “đặc sản” văn hóa của vùng đồng bằng sông Hồng. Múa “Hò biển” mang tính biểu cảm cao qua nghệ thuật xử lý rất đắc địa các đạo cụ cùng với sự hỗ trợ hiệu quả của âm nhạc. Đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn của ba diễn viên trong tiết mục. Những nhấn nhá cảm xúc, những động tác hệt như nghệ sĩ kịch câm của họ đều theo sát các tình huống trong câu chuyện nhuốm màu sắc bi kịch, nhưng cũng lạc quan về số phận con người trước biển. Ngôn ngữ múa làm sáng rõ hơn và truyền cảm hơn cái triết lý nhân sinh quan “tìm cái còn trong những gì đã mất.”. Ở những tiết mục khác, sức trẻ và sự tập luyện có tính kỷ luật cao của dàn diễn viên trẻ, tạo nên vẻ đẹp của sân khấu người lính nghệ sĩ - chiến sĩ. Đó là sân khấu có tính chuyên nghiệp, không dung nạp sự xơ cứng trong dàn dựng và biểu diễn.
Tất nhiên, dưới góc độ học thuật chuyên môn, không phải tiết mục nào, ca sĩ, nghệ sĩ múa nào của chương trình cũng đáp ứng được ngay sự hoàn hảo. Tôi chứng kiến thái độ nghiêm túc và cầu thị của toàn đoàn khi tiếp thu ý kiến đóng góp của nhạc sĩ An Thuyên ngay sau buổi chạy mộc chương trình. Với kinh nghiệm của một nhà chuyên môn, ông giúp đoàn nhặt ra “những hạt sạn” nhỏ, mà từ biên đạo múa, nhạc công đến diễn viên đều thấy một phần trách nhiệm của mình ở đó.
Trưởng đoàn- Thượng tá ĐỗThanh Sơn cho biết, do việc trẻ hóa lực lượng biểu diễn của đoàn được nhiều thuận lợi, nên toàn đoàn có điều kiện tập trung cho các hoạt động chuyên môn; trong đó, có mục tiêu nâng cao chất lượng các chương trình ca múa nhạc, mà chương trình “Người lính và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng” là một bằng chứng. Trong sự kỳ vọng về những giải thưởng từ hội diễn, các nghệ sĩ, diễn viên trong đoàn trân trọng chương trình như một sản phẩm nghệ thuật được sáng tạo bằng tất cả tấm lòng, trách nhiệm cao của người nghệ sĩ- chiến sĩ.
Ngọc Anh