An ninh nước Đồng bằng sông Cửu Long không còn là cảnh báo
Khi Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bước vào chu kỳ mới của biến đổi khí hậu, bài toán an ninh nước không còn là dự báo xa xôi mà đã trở thành thực tế hiện hữu. Xâm nhập mặn sâu hơn, thời gian kéo dài hơn, nước ngầm suy giảm nhanh, hệ thống nước mặt chưa đồng bộ, sụt lún đất tăng tốc, nhu cầu sử dụng nước của đô thị và công nghiệp bùng nổ.
Tại cuộc làm việc mới nhất vào tháng 11/2025, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ đã yêu cầu lập quy hoạch chuyên ngành cấp nước, rà soát toàn bộ hiện trạng và thiết kế mạng lưới liên vùng để giảm phụ thuộc vào nước ngầm, ưu tiên nước mặt và ứng dụng công nghệ giám sát mặn, ngọt theo thời gian thực.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chừng đó vẫn chưa đủ khi ĐBSCL đang đối mặt với “đa nguy cơ” liên quan đến tài nguyên nước, mà ĐBSCL là vùng chịu rủi ro lớn nhất về nước tại Việt Nam trong giai đoạn 2026-2050.
Hiện tượng đã vượt ngưỡng báo động
Theo các báo cáo nghiên cứu và dữ liệu phân tích trầm tích của các cơ quan quốc tế và tổ chức nghiên cứu dòng sông Mê Kông, lượng phù sa bồi đắp cho ĐBSCL đã giảm mạnh do tác động của đập thủy điện và khai thác cát, khiến phù sa hiện chỉ bằng một phần rất nhỏ so với thế kỷ 20.
Nhiều khu vực tại ĐBSCL đang ghi nhận mức suy giảm nước ngầm từ 0,3 đến 0,8 m/năm. Các nghiên cứu cũng ghi nhận mức độ sụt lún trung bình từ 2-5 cm/năm tại nhiều khu vực và xâm nhập mặn sâu hơn trong mùa khô.
Thống kê tại ĐBSCL và TP HCM (năm 2021) có khoảng 9.650 giếng cấp nước tập trung có quy mô trên 10 m3/ngày phục vụ sinh hoạt và sản xuất với tổng lưu lượng khai thác gần 2 triệu m3/ngày. Trong đó, TP HCM có đến 1.920 giếng, với lưu lượng khai thác 519 nghìn m3/ngày. Ngoài ra, khoảng 990 nghìn giếng khai thác nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình, ước tính lưu lượng khai thác khoảng 840 nghìn m3/ngày.
Nếu như với dòng chảy trên mặt đất, thời gian phục hồi khoảng 16 ngày đêm thì đối với dòng nước ngầm phải mất đến 1,5 nghìn năm. Điều đó cho thấy khả năng phục hồi của mạch nước ngầm là vô cùng khó khăn.
Hệ quả của tình trạng này không chỉ là thiếu nước sinh hoạt, mà còn lún nền đường giao thông, sạt lở bờ sông, đứt gãy mạng lưới hạ tầng, tăng chi phí sản xuất nước, nguy cơ nhiễm mặn tầng chứa nước.

Ông Đặng Văn Ngọ, Phó Chủ tịch Chi hội Cấp thoát nước miền Nam, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cấp nước Sóc Trăng cho biết: Mối nguy lớn nhất hiện nay là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa khai thác và khả năng tự phục hồi của tài nguyên nước.
Nếu tiếp tục phụ thuộc nước ngầm, nguy cơ gián đoạn cấp nước mùa khô là hoàn toàn có thật. Nhiều năm qua, do hạ tầng nước mặt chưa đồng bộ, các tỉnh như Cần Thơ, Sóc Trăng, Hậu Giang (cũ) buộc phải sử dụng nước ngầm để cấp nước cho dân sinh.
Áp lực kép “mặn - khô” và đô thị hóa nhanh ở TP Cần Thơ
Năm 2025, Cần Thơ chứng kiến xâm nhập mặn đến sớm hơn 1-1,5 tháng, độ mặn 4‰ xâm nhập sâu hơn 10-20 km, tổng lưu lượng nước mặt giảm 20-30% vào mùa khô, nhu cầu dân sinh và công nghiệp tăng 8-10%/năm. Đây là bức tranh chung của toàn vùng trung tâm.
Ông Ngọ nhấn mạnh: “Điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở nguồn nước, mà nằm ở năng lực điều phối. Nếu mỗi tỉnh tự “xoay xở”, hệ thống sẽ dễ tổn thương khi mặn xâm nhập.”
Theo lãnh đạo TP Cần Thơ, quy hoạch cấp nước mới sẽ tập trung vào 5 hướng ưu tiên:
Một là ưu tiên nước mặt, giảm mạnh nước ngầm theo lộ trình có kiểm soát và không “đóng đột ngột”, tránh tạo cú sốc cho doanh nghiệp và người dân.
Hai là kết nối liên vùng, liên nguồn đảm bảo hỗ trợ lẫn nhau giữa Cần Thơ - Hậu Giang - Sóc Trăng khi một nơi thiếu nước.
Ba là ứng dụng chuyển đổi số vào giám sát mặn, ngọt dựa trên dữ liệu thời gian thực từ hệ thống quan trắc, tránh ra quyết định chủ quan.
Bốn là đồng bộ hạ tầng phân phối với mạng lưới nguồn, tránh tình trạng “thừa công suất nhưng thiếu đường ống”.
Năm là tăng cường dự phòng mùa khô, mùa Tết, phòng mặn xâm nhập bất thường, tăng công suất dự phòng 15-20%.
Giải pháp ngắn hạn mùa khô và cao điểm tết 2026 và dài hạn
Phó Chủ tịch Chi hội Cấp thoát nước miền Nam nhấn mạnh, để không xảy ra thiếu nước trong mùa khô và dịp Tết, cần gia hạn có kiểm soát các giếng nước ngầm đang khai thác, hạn chế mở mới, tăng công suất tạm thời các trạm bơm nước mặt, tăng dự trữ hóa chất xử lý, đảm bảo nguồn điện liên tục cho các nhà máy, cho phép doanh nghiệp tạm pha trộn nguồn khi cần thiết. Trong ngắn hạn, nước ngầm vẫn là nguồn “chống sốc” nhưng phải có lộ trình giảm dần và thay thế bằng nước mặt.
Ông Ngọ chỉ rõ: “Các doanh nghiệp cấp nước không thể vận hành như một “ốc đảo”. Việc chia sẻ dữ liệu mặn - ngọt - mực nước cần tiến tới cơ chế bắt buộc.”

Nếu chính quyền, doanh nghiệp và các hội cấp thoát nước cùng nhìn an ninh nước là bài toán chung của vùng thì ĐBSCL sẽ tránh được khủng hoảng nước. Ngược lại, nếu chỉ giải quyết đơn lẻ, rủi ro sẽ lan rộng toàn hệ thống.
Theo đó, ngày 26/11/2025 đoàn chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), Bộ Nông nghiệp và Môi trường tái khẳng định cam kết hoàn tất thỏa thuận tài chính cho dự án MERIT-WB11 có tên đầy đủ là “Enhancing climate resilience and integrated transformation of the Mekong Delta region - Tăng cường khả năng chống chịu khí hậu và chuyển đổi tổng thể khu vực ĐBSCL” vào năm 2026. Đây là một trong những dự án thích ứng khí hậu lớn nhất do WB tài trợ với tổng mức đầu tư dự kiến vào khoảng 741 triệu USD.
MERIT-WB11 được xây dựng như một dự án quy mô quốc gia, với cách tiếp cận tổng hợp: Kết hợp công trình thủy lợi, đê điều, không gian trữ lũ cùng hệ thống dữ liệu, giám sát, quản lý tài nguyên nước và sinh kế bền vững. Đây vừa là nền tảng khoa học, vừa là cơ sở thực tiễn để ứng phó biến đổi khí hậu một cách toàn diện thay vì giải pháp rời rạc.