An Giang: Gắn chuyển đổi số với an toàn thông tin, mở rộng không gian phát triển kinh tế số
Chuyển đổi số chỉ phát huy hiệu quả bền vững khi hạ tầng, dữ liệu và các nền tảng được vận hành an toàn, đồng thời người dân, doanh nghiệp có đủ kỹ năng để khai thác công nghệ. Tại An Giang, cùng với phát triển chính quyền số, tỉnh đang đẩy mạnh phổ cập kỹ năng số, mở rộng thương mại điện tử và thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, từng bước tạo động lực cho phát triển kinh tế số.
Quá trình chuyển đổi số làm gia tăng nhu cầu tạo lập, kết nối và khai thác dữ liệu trong hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế - xã hội. Dữ liệu càng được chia sẻ rộng rãi, yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ thông tin cá nhân và quản lý quyền truy cập càng trở nên quan trọng.
Bảo đảm an toàn thông tin, nâng cao năng lực số cộng đồng
Theo báo cáo 9 tháng đầu năm 2026 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang, địa phương tiếp tục duy trì vận hành các hệ thống thông tin, nền tảng số phục vụ công tác quản lý, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính. Cùng với việc phát triển các ứng dụng dùng chung, tỉnh từng bước hoàn thiện kiến trúc dữ liệu, xác định danh mục dữ liệu chủ, dữ liệu dùng chung và dữ liệu mở, tạo cơ sở cho việc kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin theo quy định.
Việc phân loại dữ liệu, xác định phạm vi và thẩm quyền khai thác là yêu cầu cần thiết để vừa phát huy giá trị của dữ liệu, vừa hạn chế nguy cơ lộ, lọt thông tin. Đối với dữ liệu cá nhân, dữ liệu chuyên ngành và thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước, các cơ quan, đơn vị cần thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ dữ liệu, phân quyền tài khoản, quản lý thiết bị, sao lưu và xử lý sự cố. Việc mở dữ liệu cũng phải gắn với rà soát nội dung được phép công khai, tránh công bố thông tin thuộc diện hạn chế hoặc không được phép chia sẻ.
Song song với hoàn thiện nền tảng, An Giang chú trọng nâng cao kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức, giáo viên, học sinh và người dân. Trong 9 tháng đầu năm 2026, các chương trình phổ cập kỹ năng số ghi nhận hơn 14.000 lượt đại biểu tham gia. Hoạt động tập huấn kỹ năng số dành cho giáo viên và học sinh các khối lớp 8, 10, 11 ghi nhận khoảng 67.000 lượt tham dự.
Ở cơ sở, mạng lưới hơn 1.800 tổ công nghệ số cộng đồng với hơn 12.000 thành viên tiếp tục đóng vai trò cầu nối đưa công nghệ đến gần người dân. Thông qua hướng dẫn trực tiếp, các tổ hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, thực hiện các thao tác số và sử dụng những tiện ích thiết yếu trong đời sống.
Theo báo cáo, tỷ lệ người dân được tập huấn, tiếp cận kỹ năng số cơ bản đạt hơn 50%; tỷ lệ dân số trưởng thành được cấp chứng thư chữ ký số, chứng thư chữ ký điện tử đạt gần 30 %. Những kết quả này cho thấy nỗ lực phổ cập kỹ năng số đã được triển khai trên diện rộng, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục mở rộng khả năng tiếp cận, nhất là tại các địa bàn còn khó khăn và những nhóm người dân ít có điều kiện sử dụng công nghệ.
Phổ cập kỹ năng số vì vậy cần đi đôi với hướng dẫn sử dụng dịch vụ an toàn. Người dân cần được trang bị khả năng nhận diện thủ đoạn lừa đảo trực tuyến, bảo vệ thông tin cá nhân và tài khoản giao dịch; cán bộ, công chức cần nâng cao trách nhiệm trong quản lý dữ liệu, sử dụng tài khoản công vụ và xử lý thông tin trên các nền tảng được phép.
Ông Võ Minh Trung, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang nhấn mạnh: “Chuyển đổi số phải gắn với bảo đảm an toàn thông tin và nâng cao năng lực số của người sử dụng. Cùng với đầu tư hạ tầng, nền tảng, tỉnh cần tiếp tục phát huy vai trò của các cơ quan, đơn vị và tổ công nghệ số cộng đồng, giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng dịch vụ số thuận tiện, an toàn, hiệu quả”.
Đưa công nghệ vào sản xuất, mở rộng không gian kinh tế số
Cùng với nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin và nâng cao kỹ năng số, An Giang đang từng bước đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo thêm kênh quảng bá sản phẩm, kết nối thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.
Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang Võ Minh Trung cho biết: Theo kế hoạch phát triển kinh tế số và xã hội số năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 8% GRDP theo kế hoạch được giao. Một trong những giải pháp được triển khai là phát triển hệ sinh thái chuyển đổi số và cổng thương mại điện tử dành cho 102 xã, phường, đặc khu.
Đến thời điểm báo cáo, hệ thống đã được đưa vào vận hành tại 22/102 xã, phường, đặc khu, hỗ trợ hơn 1.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, giới thiệu 340 sản phẩm, dịch vụ. Đây là bước đầu mở rộng hiện diện của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên môi trường số, tạo điều kiện quảng bá sản phẩm và tiếp cận khách hàng ngoài phương thức truyền thống.
Ông Võ Minh Trung khẳng định, để các nền tảng phát huy hiệu quả, việc giới thiệu sản phẩm cần gắn với thông tin rõ ràng, chất lượng hàng hóa, khả năng đáp ứng đơn hàng và phương thức giao nhận phù hợp. Doanh nghiệp cũng cần chủ động bảo vệ tài khoản, dữ liệu khách hàng và thông tin kinh doanh, qua đó xây dựng niềm tin trong giao dịch trực tuyến.
Trong lĩnh vực đổi mới công nghệ, Sàn giao dịch công nghệ An Giang được nâng cấp, bổ sung chức năng giao dịch trực tuyến và cập nhật cơ sở dữ liệu công nghệ, thiết bị, nhu cầu của doanh nghiệp. Theo báo cáo, sàn hiện giới thiệu 820 sản phẩm, giải pháp công nghệ thuộc các lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản, cơ khí và chế biến thực phẩm. Nguồn thông tin này góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm giải pháp phù hợp, đổi mới thiết bị, cải tiến quy trình và nâng cao năng suất.
Đáng chú ý, tỉnh đang hoàn thiện hồ sơ đề xuất các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược gắn với những lĩnh vực có ý nghĩa thiết thực đối với địa phương. Trong nông nghiệp, các định hướng gồm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) để dự báo sâu bệnh, điều tiết tưới tiêu tự động, phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Trong y tế, tỉnh đề xuất phát triển nền tảng dữ liệu y tế thông minh, bệnh án điện tử tích hợp AI hỗ trợ chẩn đoán. Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, các giải pháp camera AI và thiết bị bay không người lái được định hướng ứng dụng vào giám sát cháy rừng, tuần tra và bảo vệ rừng, ông Võ Minh Trung nhấn mạnh.
Các nhiệm vụ này cho thấy chuyển đổi số đang từng bước mở rộng từ cải cách hành chính sang các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và quản lý tài nguyên. Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng công nghệ cần được đánh giá trên cơ sở nhu cầu thực tế, khả năng triển khai, nguồn lực vận hành và lợi ích mang lại; đồng thời bảo đảm yêu cầu về quản trị dữ liệu, an toàn thông tin ngay từ khâu xây dựng và vận hành hệ thống.
Bên cạnh kết quả đạt được, việc phát triển kinh tế số vẫn đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khả năng khai thác nền tảng và năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Khoảng cách về điều kiện tiếp cận, kỹ năng sử dụng và mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ giữa các địa bàn cũng cần được quan tâm để bảo đảm chuyển đổi số phát triển đồng đều.
Trong quý IV/2026, An Giang tiếp tục triển khai các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW; hoàn thiện chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng cường đào tạo kỹ năng số, phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ. Việc phát triển các nền tảng, cơ sở dữ liệu tiếp tục gắn với yêu cầu quản lý quyền truy cập, bảo vệ thông tin, giám sát vận hành và nâng cao khả năng ứng phó sự cố.
Từ mở rộng dịch vụ số, phát triển thương mại điện tử đến thúc đẩy ứng dụng AI, IoT trong sản xuất, An Giang đang từng bước tạo dựng môi trường số phục vụ người dân và doanh nghiệp. Khi công nghệ được triển khai đúng nhu cầu, dữ liệu được khai thác có trách nhiệm và an toàn thông tin được bảo đảm, chuyển đổi số sẽ có thêm điều kiện chuyển hóa thành năng suất, chất lượng và động lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.



