Ẩm trà lưu giữ giá trị văn hóa Việt

Trong đời sống người xưa, trà là một dụng phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Đến mức ẩm trà đích thực là một nghệ thuật, nếu không thì sao có chuyện cụ Sáu phải cho người nhà xuống tận chùa Đồi Mai quẩy nước về pha trà mời  tiếp bạn tri ân, bởi chỉ có giếng nước chùa này mới không thể làm lạc mất hương. Từ câu chuyện người sành trà của nhà văn hào hoa Nguyễn Tuân mới thấy, với ẩm trà, hình như có gì đặc biệt…

Ẩm trà lưu giữ giá trị văn hóa Việt
  Thưởng thức trà tại quán Nam Giao
Ở Việt Nam luôn tồn tại một nền văn hóa trà thanh lịch và tỏa hương.Thưởng trà là một nghệ thuật đẹp của người Việt trong quá khứ. Thưởng trà với hoa, trăng hoặc thanh tịnh nơi trà thất. 

Nghệ thuật uống trà trước hết là cái ấm quần ẩm. Bậc văn nho xưa dùng ấm hình quả vả, quả sung hay ấm đất nung đã một thời nổi tiếng kinh kỳ. Làm thế nào cho cao chè bám chặt vào vách ấm mà người sành trà cứ mong mỗi ngày được phủ dày thêm như phù sa bồi đắp mãi vào màu nâu của ấm đất. Lại còn chén tống, chén quân, bày tất cả lên chiếc khay hình chữ nhật, cao thành bằng gỗ trắc, chân quỳ, chạm trổ tinh vi nữa. Có như thế mới đúng là bộ trà Việt Nam xưa. Trà ắt phải đựng trong bao thiếc dày để chống được độ ẩm và hương chè mới không bay. Nước pha trà được múc từ đầu nguồn suối mới tinh khiết và uống thì phải ngồi trong không gian tĩnh lặng, thiên nhiên, con người hoà làm một để thư thái tận hưởng. Có như thế hớp chè mới chứa đầy đủ cái chất thơm ngon và cái hồn hương vị. “Một ấm trà ngon sẽ để lại cho người thưởng thức một hương thi ca và một triết lý ngàn đời”, câu nói ấy của người Trung Hoa xưa thật ý vị.

Người ta cú thể uống trà một cỏch im lặng và nhiều khi sự im lặng đó ẩn chứa nhiều điều. Người ta có thể xét đoán tâm lý người đối thoại khi dựng trà. Khi đó trở thành một cỏi thỳ thỡ người ta khụng thể quờn nú, vỡ trà đồng nghĩa với sự sảng khoái, tỉnh táo, tĩnh tâm để mưu điều thiện, tránh điều ác.

Trong sự gấp gáp nhịp sống đô thị hôm nay mấy ai uống trà cầu kỳ, nghiêm cẩn như pha trà bằng nước mưa, nước giếng mà Nguyễn Tuân đã miêu tả? Ai đi thuyền hứng nước lòng lá sen, ủ trà trong từng bông búp sen chưa nở? Ai mỗi  sáng đun nước bằng than hoa, tiểu đồng hầu trà, chỉ vài ba chén mắt trâu thay cho bữa sáng? Tìm được một nơi thanh tịnh, bỏ lại phía sau bao ưu phiền, nhọc nhằn, toan tính để thưởng ngoạn chén trà cùng tâm tình “trà tam rượu tứ” kể không phải dễ…

Còn không một phòng thưởng thức trà mà khi bước qua cửa, thực khách “lội” qua dòng nước, “dẫm” qua hàng sỏi để gột rửa, giũ sạch bụi bặm, dư tạp bước vào không gian trầm mặc mà cứ ngỡ lạc vào “cửa thiền”?

Phố Cảng có một nơi như thế. Một không gian với màu sắc dịu nhẹ, không có cảm giác tức mắt ở đây. Để rồi, ta như thăng hoa cảm xúc khi âm thanh ngọt nhẹ giọng hát quan họ của liền anh, liền chị với áo tứ thân, mớ ba mớ bảy cất lời mời gọi: “có yêu nhau thì sang chơi cửa, chơi nhà”, “em pha trà mời người sơi, sơi mấy chén cho em vui lòng”… Đến đây được cười, được nói thoả chí nhưng là trong tâm thức nhẹ nhàng, không xô bồ, ầm ĩ. Hãy cùng trò chuyện trong khi đợi các thiếu nữ duyên dáng áo dài truyền trống, thường trực nét cười duyên trên đôi môi, nhanh tay nhưng khéo léo, nhẹ nhàng tráng ấm, thổi lửa, nhúm từng cọng chè trôi vào ấm Nước hoà vào trà ngút hương thơm, khói lan quanh bàn, tìm đến gọi mời khách trong ánh đèn lồng treo cao hắt xuống đủ sáng để thấy rõ cảm xúc của nhau.

Hãy mở lòng cảm thông, cho dù không được pha bằng “ấm cổ” nhưng cũng có những ấm đất nung đủ “chuẩn” cho trà giữ nguyên vị thơm. Thứ trà Sen để mời khách bảo đảm tốt nhất Việt Nam rồi đấy. Phải ướp từ hơn một nghìn bông sen mới được một ký trà, cầu kỳ ở chỗ,  phải là sen Hồ Tây của đất Hà Thành. Hãy tự hào khoe với bè bạn năm châu rằng trà Sen của Việt Nam ta đủ sánh với trà Đạo-Nhật Bản, trà bắc Triều Tiên hay trà Trung Hoa. Hiện hữu nơi đây hơn ba mươi loại trà khác: từ Thượng Sơn, Bạch Ngọc, Tân Cương, Hoa Bách Hợp, đến Cung Đình, Bát Bảo, Long Nhãn, La Hán… nghe tên thôi cũng cảm được những điều lắng đọng. 

 Có một không gian thuần Việt để khách thưởng trà không còn cảm giác đang ngồi ở quán, lo toan những suy nghĩ mua bán tầm thường. Thay vào là tình cảm gần gũi, đầm ấm như ở nhà mình vậy. Ấy là không gian của mái lá, vách gỗ xen lẫn gạch cũ rêu phong hình dung không hơn một ngôi nhà xưa nơi thôn quê. Đâu đó tiếng chim kêu, róc rách tiếng nước chảy, điểm bức tranh Đông Hồ, hay những cổ vật của người chủ có thú sưu tầm, yêu thích đồ cổ từ nhỏ. Khách đến để cảm thụ văn hoá, tìm lại thú “quần thực, độc thực”, vì trà giúp tìm lại sự minh mẫn và sáng tạo ở con người. Khi thưởng trà tâm thế nhẹ nhàng, giúp con người trở về với sự thuần khiết, giản đơn hơn trong suy nghĩ, như thế ắt sẽ cảm thấy cuộc sống thi vị nhường nào. Người nước ngoài hay kiều bào xa quê, tất nhiên cả người Việt ta đắm say cùng nơi này sẽ thấy hiển hiện sâu đậm văn hoá Việt, ắt sẽ đọng lại nỗi nhớ niềm thương, ra về còn vấn vương câu hát: “…đừng thấy tôi lắm bạn mà ngờ, tuy rằng tôi lắm bạn nhưng vẫn chờ là chờ người ngoan, tính tang…tính tình… tình tang…”

Người Hải Phòng tự hào có một nơi để thoả thú vui ẩm trà tao nhã, cao sang. Ở Hải Phòng mà không biết nơi này thì “phí” quá, không chỉ ẩm trà, còn có ẩm tửu, ẩm thực đặc biệt, lạ kỳ chẳng kém. Với tao nhân mặc khách, quán Nam Giao không khó tìm mặc cho nó lẩn khuất trong một ngõ nhỏ, qua hai lần ngoặt mới thấy, ngự khoảng giữa đường Văn Cao không xa lạ với mỗi người…

Văn Lượng