70 năm trước, kìa bóng Bác...

 Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước và hoạt động ở nước ngoài, mùa xuân 1941, Bác Hồ đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. 70 năm đã trôi qua, nhưng những sự kiện quan trọng trong những năm tháng ấy như vẫn còn nóng hổi trong tâm khảm của bao thế hệ con cháu Lạc Hồng…

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước và hoạt động ở nước ngoài, mùa xuân 1941, Bác Hồ đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. 70 năm đã trôi qua, nhưng những sự kiện quan trọng trong những năm tháng ấy như vẫn còn nóng hổi trong tâm khảm của bao thế hệ con cháu Lạc Hồng…

Ngày 8/2/1941, Bác Hồ cùng một số cán bộ đã về đến cột mốc 108 trên biên giới Việt Trung. Bước qua đường biên, đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất Tổ quốc, Người lặng lẽ bốc một nắm đất đưa lên hôn trong niềm xúc động sâu sắc. Thật là, “Ba mươi năm ấy chân không nghỉ/ Mà đến bây giờ mới tới nơi.” Khi xuống tàu, rời cảng Nhà Rồng đi tìm đường cứu nước, Người còn rất trẻ - mới 21 tuổi – còn bây giờ, mái tóc đã điểm sương, đôi vai gầy trĩu nặng gánh giang sơn.

Suối Lê nin - nơi in bóng Bác những ngày đầu cách mạng Việt Nam
Suối Lê nin - nơi in bóng Bác những ngày đầu cách mạng Việt Nam

Buổi đầu về nước, Bác và các đồng chí cốt cán đã chọn làng Pắc Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng làm căn cứ. Hang Pắc Bó tại làng này trở thành nơi ở và làm việc của Người. Cuộc sống của Bác nơi đây hết sức khó khăn, thiếu thốn nhưng Bác luôn dạt dào niềm lạc quan cách mạng. Vừa chỉ đạo phong trào, Bác vừa viết sách, dịch sách, làm thơ tuyên truyền, viết bài động viên cổ vũ nhân dân tham gia các đoàn thể cứu quốc. Cuộc sống đạm bạc của Bác được mô tả với nhãn quan của một vĩ nhân, coi khinh gian khổ, sáng soi ý chí và niềm tin thắng lợi:

          “Sáng ra bờ suối, tối vào hang

          Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
          Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
          Cuộc đời cách mạng thật là sang”

“Sử Đảng” Bác viết ở đây chính là cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, được Người trực tiếp dịch ra tiếng Việt để dùng làm tài liệu học tập cho cán bộ.

Trong thời gian ở Pắc Bó, Bác cũng viết một số tác phẩm về đấu tranh vũ trang, trong đó có cuốn “Cách đánh du kích” bằng hình thức tổng kết kinh nghiệm du kích Nga. Tập sách gồm 13 chương, văn phong gãy gọn, súc tích, dễ hiểu và dễ nhỡ. Bác viết tác phẩm này làm tài liệu tuyên truyền kiến thức quân sự để cán bộ học tập, vận dụng trong cuộc đấu tranh đánh đuổi quân xâm lược.

Ngày 10/5/1941, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Bác Hồ triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại rừng Khuổi Nậm (thuộc xã Trường Hà). Trong hội nghị này, Bác đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương.

Tiếp đó, theo chỉ đạo của Bác, Hội Việt Nam Độc lập Đồng minh ( gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) đã được thành lập ngày 19/5/1941. Để cho Mặt trận Việt Minh phát triển rộng rãi trong nhân dân, Bác đã viết diễn ca giới thiệu “Mười chính sách Việt Minh” cùng các bài thơ vận động nông dân, phụ nữ, thiếu nhi, công nhân, binh lính tham gia các Hội Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc, Binh lính Cứu quốc…tức là các tổ chức thành viên của Mặt trận Việt Minh.

Ngày 1/8/1941, Bác cho ấn hành báo “Việt Nam độc lập”. Dù bận nhiều công việc trọng đại, nhưng Bác đã đảm đương một phần lớn bài viết và trực tiếp làm công tác biên tập của tờ báo này.

          “Việt Nam độc lập thổi kèn loa

          Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già
          Đoàn kết vững bền như khối sắt
          Để cùng nhau cứu nước Nam ta”

Bài thơ trên được đặt dưới bức tranh cổ động cho báo cũng - do chính Bác vẽ - để làm biểu tượng của báo Việt Nam độc lập.

Cũng trong năm 1941, Bác đã viết diễn ca “Lịch sử nước ta” bằng thơ lục bát. Diễn ca này nhanh chóng được truyền miệng ở nhiều nơi và được rất nhiều người thuộc lòng; đến năm 1942, được xuất bản thành sách và trở thành một tài liệu tuyên truyền hết sức hiệu quả. Diễn ca kết thúc bằng những câu thơ nói về nhiệm vụ trước mắt của toàn dân tộc:

          “Chúng ta có Hội Việt Minh

          Đủ tài lãnh đạo dân mình đấu tranh
          Mai sau sự nghiệp hoàn thành
          Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
          Dân ta xin nhớ chữ đồng
          Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”

Sau 70 năm kể từ sớm xuân 1941 thiêng liêng ấy, hôm nay ôn lại, chúng ta càng thêm thấu hiểu sâu sắc về thiên tài, trí tuệ và sự quyết đoán sáng suốt của Bác trong một thời khắc có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà; để từ đó, cách mạng Việt Nam lớn mạnh nhanh chóng, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành tự do cho dân tộc, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc, cho hai tiếng “Việt Nam” được lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu…

Văn Cần