Dấu mốc có ý nghĩa lớn về thể chế
- Thưa ông, Quốc hội vừa thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành cao. Xin ông cho biết đánh giá về ý nghĩa của việc này cũng như kỳ vọng của bản thân về sự phát triển bứt phá của TP Hà Nội trong thời gian tới?
TS Trần Văn Khải: Tôi cho rằng việc Luật Thủ đô (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành rất cao trước hết là một dấu mốc có ý nghĩa lớn về thể chế. Đây không chỉ là việc hoàn thiện thêm một đạo luật dành riêng cho Thủ đô, mà là sự khẳng định đồng thuận chính trị rất mạnh của Trung ương và Quốc hội đối với yêu cầu tạo một khuôn khổ pháp lý mới, đủ rộng, đủ linh hoạt và đủ trách nhiệm để Hà Nội phát triển nhanh hơn, bền vững hơn trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, thì việc thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi) có thể nói là một bước thể chế hóa rất kịp thời tinh thần "thể chế phải đi trước một bước", biến chủ trương lớn của Đảng thành công cụ pháp lý cụ thể để hành động.
Ý nghĩa thứ hai, theo tôi, là luật lần này không dừng ở việc nêu mục tiêu hay khuyến khích chung, mà đã trao thẩm quyền thực chất cho chính quyền thành phố. Luật giao cho chính quyền Hà Nội 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội, trong đó có các thẩm quyền rất quan trọng liên quan đến ban hành cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy, phân cấp, thí điểm và quản trị phát triển.
Điều này rất đáng chú ý, bởi khi đã có thẩm quyền thì Hà Nội không còn chỉ ở vị trí chờ đợi hướng dẫn chi tiết từ trên xuống cho từng việc nhỏ, mà có thể chủ động thiết kế giải pháp phù hợp với thực tiễn Thủ đô, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm giải trình cao hơn trước Nhân dân, trước Quốc hội và trước các cơ quan có thẩm quyền. Tôi cho rằng đây là bước chuyển rất mạnh từ tư duy "xin cơ chế" sang tư duy "được giao quyền để kiến tạo phát triển".

Với riêng Hà Nội, kỳ vọng lớn nhất nằm ở chỗ đạo luật này mở ra một không gian phát triển mới để Thủ đô thực sự chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Thành phố đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 11%/năm trở lên, kinh tế số chiếm khoảng 40% GRDP, đồng thời xác định đi đầu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Luật Thủ đô (sửa đổi) đặt rất rõ vị thế của Thủ đô là trung tâm lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời xây dựng cả một chương riêng để thể chế hóa các công cụ về quỹ đầu tư mạo hiểm, sandbox, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quản trị bằng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, phát triển khu công nghệ cao, phát triển nhân lực chất lượng cao. Nếu triển khai tốt, đây sẽ là nền tảng để Hà Nội không chỉ tăng nhanh về quy mô, mà tăng mạnh về chất lượng tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh.
Vì vậy, kỳ vọng của tôi là từ sau khi Luật có hiệu lực ngày 1/7/2026, Hà Nội sẽ tận dụng ngay cơ hội này để trở thành địa phương đi đầu cả nước về đổi mới thể chế phát triển, về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đúng với vai trò của Thủ đô.
Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng kỳ vọng chỉ trở thành hiện thực khi tổ chức thực hiện thật nhanh, thật quyết liệt và thật rõ việc. Thành phố phải khẩn trương ban hành các nghị quyết của HĐND, các quy định của UBND theo thẩm quyền được luật giao; lựa chọn đúng những lĩnh vực cần làm trước, như dữ liệu, cải cách thủ tục hành chính, khởi nghiệp sáng tạo, thu hút chuyên gia, phát triển Hòa Lạc và các khu công nghệ cao. Nói ngắn gọn, điều mà tôi kỳ vọng không chỉ là một đạo luật tốt, mà là một giai đoạn phát triển mới của Hà Nội được dẫn dắt bằng một đạo luật tốt và được thực thi với quyết tâm chính trị rất cao.
Đưa kinh tế số trở thành phương thức tăng trưởng của nền kinh tế Thủ đô
- Luật Thủ đô (sửa đổi) cũng đã xác lập nhiều chính sách đột phá trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo ông, điều này có ý nghĩa như thế nào đối với việc hiện thực hoá mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số đóng góp tối thiểu 40% GRDP trong giai đoạn 2026-2030 của TP Hà Nội?
TS Trần Văn Khải: Theo tôi, ý nghĩa lớn nhất của các chính sách đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Luật Thủ đô (sửa đổi) là tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu một cách thực chất. Tăng trưởng theo chiều sâu không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, đất đai hay lao động giá rẻ, mà phải dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ, dữ liệu và khả năng đổi mới.

Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 57-NQ/TW, khi văn bản này xem khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi Hà Nội đặt mục tiêu kinh tế số chiếm khoảng 40% GRDP vào năm 2030, thì yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng thêm doanh nghiệp công nghệ, mà phải tái cấu trúc cả mô hình tăng trưởng của Thủ đô.
Ở góc độ công cụ chính sách, Luật Thủ đô (sửa đổi) đi đúng vào những "nút thắt" cản trở tăng trưởng theo chiều sâu nhiều năm qua. Điều 18 cho phép phân bổ và sử dụng ngân sách linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, dựa trên kết quả đầu ra; cho phép xây dựng quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; quỹ đầu tư mạo hiểm từ ngân sách thành phố vận hành theo cơ chế thị trường; hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu; phát triển tài sản số; chia sẻ dữ liệu công – tư; quản trị dựa trên dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn cao hơn hoặc chưa có chuẩn quốc gia. Điều 19 tạo hành lang pháp lý cho thử nghiệm có kiểm soát.
Điều 20 mở không gian phát triển cho các khu công nghệ cao và xác lập vai trò đặc biệt của Hòa Lạc. Điều 25 và Điều 26 lại giải quyết hai điều kiện quyết định của tăng trưởng chiều sâu là nhân lực chất lượng cao và ưu đãi có chọn lọc để hút doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chuyên gia, nhà khoa học. Đó là những công cụ rất "trúng" vào bản chất của mô hình tăng trưởng mới.
"Luật đang trực tiếp tạo ra hạ tầng pháp lý để kinh tế số không chỉ là một khu vực ngành, mà trở thành phương thức tăng trưởng của cả nền kinh tế Thủ đô."
Ý nghĩa của các chính sách này đối với mục tiêu kinh tế số đóng góp tối thiểu 40% GRDP là hết sức rõ ràng. Theo thông tin chính thức của thành phố, giai đoạn 2021-2025, kinh tế số của Hà Nội mới ở khoảng 23% GRDP; trong khi kế hoạch 2026-2030 đặt mục tiêu đạt 40%. Như vậy, Thủ đô không thể đi theo lối mòn tăng dần thông thường, mà phải có bước nhảy vọt về chất. Muốn vậy, không chỉ khu vực công nghệ số phải tăng trưởng nhanh hơn, mà toàn bộ nền kinh tế đô thị phải được "số hóa", "dữ liệu hóa" và "đổi mới hóa": từ dịch vụ công, logistics, y tế, giáo dục, tài chính, thương mại, giao thông đến công nghiệp văn hóa và quản trị đô thị.

Khi luật cho phép Hà Nội áp dụng cơ chế sandbox, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, ưu tiên mua sắm đổi mới sáng tạo, thu hút nhân tài và phát triển sản phẩm công nghệ số, thì luật đang trực tiếp tạo ra hạ tầng pháp lý để kinh tế số không chỉ là một khu vực ngành, mà trở thành phương thức tăng trưởng của cả nền kinh tế Thủ đô.
Tôi cho rằng có thể diễn đạt ngắn gọn thế này: các chính sách đột phá của Luật Thủ đô (sửa đổi) có ý nghĩa vì chúng làm thay đổi hàm sản xuất của Hà Nội. Thay vì dựa nhiều vào tài nguyên hữu hạn, Hà Nội được tạo điều kiện dựa nhiều hơn vào tài nguyên vô hạn là tri thức, dữ liệu, công nghệ và năng lực sáng tạo của con người. Một khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được tích hợp vào hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực, phát triển doanh nghiệp và quản trị đô thị, thì tăng trưởng của Hà Nội sẽ không chỉ nhanh hơn, mà còn bền hơn, sạch hơn và có sức cạnh tranh dài hạn mạnh hơn.
Đó chính là nền tảng để chuyển mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, đúng chủ trương của Đảng, đúng yêu cầu phát triển của Thủ đô và đúng mục tiêu thành phố đã đặt ra cho giai đoạn 2026-2030.
Lấy dữ liệu làm trọng tâm của triển khai
- Để các chính sách đi vào cuộc sống nhanh chóng và phát huy hiệu quả, theo ông, chính quyền TP Hà Nội cần làm gì, đặc biệt là việc thực thi các chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thưa ông?
TS Trần Văn Khải: Để các chính sách của Luật Thủ đô (sửa đổi) nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, theo tôi, việc đầu tiên chính quyền thành phố phải làm là chuyển thật nhanh từ trạng thái "chuẩn bị chính sách" sang trạng thái "tổ chức thi hành theo chương trình hành động có sản phẩm cụ thể". Luật có hiệu lực từ 1/7/2026, quỹ thời gian chuẩn bị không nhiều, trong khi nhiều cơ chế then chốt lại đòi hỏi phải có nghị quyết của HĐND hoặc quy định của UBND để vận hành được trên thực tế.

Vì vậy, Hà Nội cần xây dựng ngay một chương trình triển khai riêng cho Chương V và các điều liên quan, xác định rõ: nội dung nào phải ban hành trong 3 tháng đầu; nội dung nào phải thí điểm trong 6 tháng đầu; nội dung nào phải có kết quả kiểm đếm trong năm đầu tiên. Quan điểm của tôi là không để xảy ra tình trạng luật đã có hiệu lực nhưng các công cụ quan trọng như quỹ, sandbox, cơ chế đặt hàng, khoán chi, chia sẻ dữ liệu hay thu hút nhân tài vẫn dừng ở ý tưởng.
Bốn việc Hà Nội cần làm
Thứ nhất: Chuyển nhanh sang "tổ chức thi hành theo chương trình hành động có sản phẩm cụ thể" — xác định rõ nội dung phải ban hành trong 3 tháng đầu, thí điểm trong 6 tháng đầu và có kết quả kiểm đếm trong năm đầu tiên.
Thứ hai: Lấy dữ liệu làm trọng tâm — làm sạch và kết nối cơ sở dữ liệu dùng chung; chuẩn hóa quy trình số trong toàn bộ dịch vụ công; triển khai mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Thứ ba: Tổ chức thực thi theo tinh thần hệ sinh thái — hình thành đầu mối điều phối đủ mạnh, gắn trách nhiệm rõ cho từng sở ngành, sớm vận hành quỹ phát triển khoa học công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm.
Thứ tư: Đi đôi giữa đột phá và kiểm soát rủi ro — thiết lập hệ thống theo dõi kết quả thực hiện theo quý, công khai hóa các chỉ tiêu trọng tâm và lấy mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo.
Việc thứ hai là phải lấy dữ liệu làm trọng tâm của triển khai. Kế hoạch 02-KH/BCĐTW đã chỉ rất rõ yêu cầu về liên thông, đồng bộ, không gián đoạn, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc dữ liệu phải "đúng – đủ – sạch – sống – thống nhất – dùng chung", đồng thời đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về tích hợp dịch vụ công, xử lý hồ sơ trực tuyến, số hóa hồ sơ và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu trọng yếu. Thực tiễn Hà Nội cũng cho thấy thành phố đang xác định hoàn thiện dữ liệu là nhiệm vụ then chốt; đã ủy quyền 636 thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết nhiều thủ tục từ 3-5 ngày, tỷ lệ giải quyết đúng và trước hạn đạt 95,77%.
Theo tôi, từ nền tảng đó, Hà Nội phải đi tiếp ba việc: làm sạch và kết nối các cơ sở dữ liệu dùng chung của thành phố; chuẩn hóa quy trình số trong toàn bộ dịch vụ công; và triển khai các mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo ở những lĩnh vực tạo hiệu quả nhanh như quy hoạch, giao thông, môi trường, y tế và hành chính công.
Việc thứ ba là phải tổ chức thực thi theo tinh thần hệ sinh thái, chứ không triển khai rời rạc từng chính sách lẻ. Thành phố cần sớm hình thành đầu mối điều phối đủ mạnh cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời gắn trách nhiệm rất rõ cho từng sở, ngành.
Cùng với đó là cơ chế đặt hàng các "bài toán lớn" của Thủ đô cho doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học; sớm vận hành quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm; hình thành quy trình thử nghiệm có kiểm soát minh bạch, nhanh nhưng an toàn; và xây dựng chính sách đủ hấp dẫn để thu hút chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực số chất lượng cao.
Hà Nội hiện đã xác định nhiều bước chuẩn bị như ban hành 6 nghị quyết đặc thù về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy sàn giao dịch công nghệ, chợ chuyển đổi số, trung tâm đổi mới sáng tạo, đặt mục tiêu đào tạo khoảng 50.000 nhân lực kỹ thuật cao đến năm 2030. Theo tôi, vấn đề bây giờ là phải kết nối các mảnh ghép ấy thành một hệ sinh thái vận hành đồng bộ.

Việc thứ tư, và cũng là điều tôi đặc biệt nhấn mạnh, là phải đi đôi giữa đột phá và kiểm soát rủi ro. Luật đã mở rộng không gian thử nghiệm, chấp nhận rủi ro, giao quyền lớn hơn cho HĐND, UBND và Chủ tịch UBND thành phố; nhưng chính luật cũng đồng thời đặt ra yêu cầu về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát và loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý chỉ trong trường hợp không tư lợi, tuân thủ đầy đủ quy trình.
Vì vậy, thành phố cần thiết lập hệ thống theo dõi kết quả thực hiện theo quý, theo từng nhóm nhiệm vụ, công khai hóa các chỉ tiêu trọng tâm và lấy mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo.
"Các chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Luật Thủ đô sẽ không chỉ đi vào cuộc sống nhanh chóng, mà còn thực sự trở thành động lực đột phá cho phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới."
Tôi cho rằng nếu Hà Nội làm được bốn việc: ban hành kịp thời văn bản triển khai, lấy dữ liệu làm trung tâm, tổ chức thực thi theo hệ sinh thái và kiểm soát rủi ro bằng cơ chế giám sát chặt chẽ, thì các chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Luật Thủ đô sẽ không chỉ đi vào cuộc sống nhanh chóng, mà còn thực sự trở thành động lực đột phá cho phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
Xin trân trọng cảm ơn ông!