Ngày xuân “cõng” sóng lên non

Ngày xưa, người dân Mường Tè (Lai Châu) có khi phải đi bộ 30km mới gọi điện thoại được. Có lần trạm VISAT bị sét đánh, mất liên lạc gần một tháng, ngày thiết bị lên, anh em sửa đến tận 9h tối mới xong nhưng bà con vẫn kiên nhẫn chờ. Niềm vui được nối liền những khoảng cách khiến những cán bộ nhân viên viễn thông có động lực mỗi ngày cõng “sóng” lên non.

Ngày xưa, người dân Mường Tè (Lai Châu) có khi phải đi bộ 30km mới gọi điện thoại được. Có lần trạm VISAT bị sét đánh, mất liên lạc gần một tháng, ngày thiết bị lên, anh em sửa đến tận 9h tối mới xong nhưng bà con vẫn kiên nhẫn chờ. Niềm vui được nối liền những khoảng cách khiến những cán bộ nhân viên viễn thông có động lực mỗi ngày cõng “sóng” lên non.

Trạm BTS Tà Tổng
Trạm BTS Tà Tổng

Trạm phát sóng cô đơn

Trên bản đồ thông tin liên lạc, xã Tà Tổng (huyện Mường Tè) có một dấu chấm, đánh dấu nơi đặt trạm viba Tà Tổng, trạm vi ba “huyết mạch” trong thông tin liên lạc giữa huyện Mường Tè và các địa phương khác.

Những ai đã từng tới Lai Châu, đi Mường Tè, nghe đến Tà Tổng, mới biết để giữ “dấu chấm” đó tồn tại, phải công phu đến mức nào. Đặc thù địa lý nằm trên đỉnh núi, cao chừng 1600m so với mặt nước biển. Trước đây để lên Tà Tổng, phải đi bộ 18km đường núi. Mùa mưa, xã gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Việc vận chuyển ra vào xã hoàn toàn phụ thuộc vào sức người và ngựa thồ. Ngày xây dựng trạm viba Tà Tổng, cả cột viba cùng với bao nhiêu linh kiện kèm theo được tháo rời ra thành từng đốt, được gùi cõng thủ công lên đỉnh núi rồi mới lắp ráp lại.

Quá trình duy trì đảm bảo hoạt động của trạm viba còn công phu gấp nhiều lần. Không có điện lưới đến địa điểm này, nguồn năng lượng trông chờ chủ yếu vào nguồn điện máy nổ chạy bằng dầu. Vì đường xá chia cắt khó khăn, mỗi kg dầu đến trạm Tà Tổng chi phí đắt gấp đôi so với các nơi khác.

Ông Trần Việt Hùng, Giám đốc Trung tâm Viễn thông Mường Tè, từng có thời gian gắn bó với trạm kể thêm chi tiết chứng minh sự “xa xôi cách trở”: “Năm 2005 tôi rời trạm đi nhận công tác khác, gửi đồ đạc ở lại và phải đến hai năm sau mới lên mang được đồ đạc cá nhân về”. Trạm được biên chế 9 người, chia làm 3 ca trực, mỗi ca làm 1 tháng liên tục. “Cả tháng chỉ ở trạm, ăn đồ hộp triền miên. Trong cả tháng đó, hầu như cuộc sống của cả 3 anh em trong ca tách biệt với bên ngoài”, ông Hùng kể lại.

Cũng cần nói thêm về tầm quan trọng của các trạm viba trong việc đảm bảo thông tin liên lạc ở địa bàn miền núi. Từ khoảng năm 2010 trở về trước, thông tin liên lạc ở Mường Tè “xài” viba 100%, và trạm viba Tà Tổng này là trạm trung chuyển, là trạm đường trục cấp 2 nối giữa huyện với tỉnh. Địa hình miền núi nhiều đặc thù, vì thế, mặc dù bây giờ đã có hệ thống cáp quang, có trạm BTS, nhưng Mường Tè vẫn phải giữ trạm viba để dự phòng.

Cõng dầu lên trạm BTS
Cõng dầu lên trạm BTS

Sau đó do thay đổi tuyến viba, trạm viba được di chuyển từ vị trí cũ xuống vị trí mới, cách 7km nơi đặt trạm BTS Tà Tổng bây giờ, và ghép vào cùng hạ tầng với trạm BTS. Hạ xuống vài cây số nên mọi điều kiện “dễ chịu” hơn, vận chuyển nhiên liệu dễ dàng hơn, công coi sóc cũng giảm đi, từ 9 người trực giờ rút xuống còn 2. Dù điều kiện của trạm hiện đã là “trong mơ” so với quá khứ, nhưng đường lên trạm bây giờ vẫn còn là điều “ngoài sức tưởng tượng” của nhiều người. Nói là đường ô tô nhưng ô tô chỉ có thể nhúc nhắc bò lên vào mùa khô, còn mùa mưa mọi người phải chấp nhận đi bộ hàng chục km.

Niềm vui có sóng di động

Tà Tổng chỉ là một trong 20 trạm BTS mà Trung tâm Viễn thông Mường Tè đang quản lý. Ở huyện miền núi này, mỗi xã, thị trấn 1 trạm, riêng Bum Tở 2 trạm, còn 2 xã mới tách năm 2012 chưa có trạm BTS là Vàn San (cách trung tâm huyện 25km) và Tá Bạ (cách 70km). Đa phần các trạm nằm ở vị trí hiểm yếu, vùng sâu cùng xa, việc duy trì ổn định mạng lưới thông tin cho toàn huyện trong quá trình vận hành khai thác không hề dễ dàng. Đặc thù địa hình miền núi phức tạp ảnh hưởng đến phương thức truyền dẫn. Nếu như các tỉnh đồng bằng hoàn toàn quang hóa đến tận trạm BTS, thì ở đây chỉ quang hóa trên đường trục, còn lại vẫn phải sử dụng phương thức viba để đảm bảo truyền dẫn cho các trạm BTS.

Bảy trạm không có điện lưới, phải chạy dầu. Trong điều kiện thời tiết bình thường, việc vận chuyển xăng dầu lên trạm đã không dễ dàng gì. Còn vào mùa mưa lũ, đường sạt tắc, dầu phải chia từ thùng ra, thuê cõng từng can qua quãng đường hàng chục km. Ví dụ như trạm BTS Mù Cả cách trung tâm 80km thì chỉ vận chuyển bằng ô tô được quãng đường 50km, còn lại phải “tăng bo” đi bộ gần 30km. Nhưng có khó khăn như thế nào, thông tin liên lạc vẫn không thể dừng một phút. Trung bình mỗi trạm cần 30 triệu tiền dầu để vận hành mỗi tháng, cả huyện miền núi mất khoảng 250 triệu mỗi tháng cho các trạm BTS, khoản chi phí không hề “dễ chịu” đối với bất kỳ trung tâm viễn thông nào.

Một điều khác mà cả những người làm viễn thông ở đồng bằng cũng khó hình dung ra: Nếu ở đồng bằng mật độ cắm trạm BTS rất dày, trạm này mất liên lạc thì còn có sóng ở trạm kia; thì trạm ở đây đã “cô đơn” lại còn phải phục vụ đạt hiệu quả tối đa. Nếu trạm đó mất liên lạc thì cả xã mất liên lạc, trong phạm vi 20 – 30km không có sóng di động nào thay thế. Thế nên theo tiêu chuẩn ngành, mỗi trạm BTS phủ sóng bán kính tới 7km, nhưng trạm ở đây được “xoay” sao cho sóng “với” càng ra xa càng tốt, có khi tới 20km.

Hiện 20 trạm của Mường Tè phủ 17/19 xã, đạt khoảng 85 - 90% diện tích, còn hai xã chưa có trạm mà dùng chung “sóng với”. Nếu chỉ đơn thuần kinh doanh, Viễn thông Mường Tè có thể chọn vùng mang lại lợi nhuận cao. Nhưng xác định phải thực hiện cả nhiệm vụ chính trị đảm bảo thông tin liên lạc cho các cấp chính quyền địa phương, khó khăn thế nào anh em cũng không được từ bỏ.

Niềm vui có sóng điện thoại
Niềm vui có sóng điện thoại

Năm 2006, thời điểm còn chưa có nhiều điện thoại di động, chưa có hệ thống trạm BTS mà chỉ có một trạm vệ tinh mặt đất lắp ở Ka Lăng, người dân muốn gọi điện thì “chỉ được nói ít thôi”, phải xếp hàng người này chờ người kia, gọi cho gia đình, nói chuyện tình cảm yêu đương cứ “bơ đi” coi như không có người bên cạnh, trong khi người xếp hàng luôn thúc giục “nói nhanh lên, nhường người khác gọi nữa”.

Có lần, trạm đó “chết” gần 1 tháng do sét đánh hỏng, phải chờ thiết bị dưới Hà Nội chuyển lên. Ngày thiết bị lên, anh em sửa trạm tới 9h tối không nghỉ. Sửa xong nhìn ra, thấy bà con vẫn đang xếp một hàng dài đứng chờ mà thấy cảm động quên cả đói mệt. Anh Hùng kể: “Giúp đồng bào không phải đi bộ mấy chục km để gọi điện, giúp cho khoảng cách địa lý cách trở được thu hẹp lại, giúp cho niềm vui của các gia đình được sẻ chia là động lực thúc đẩy anh chị em chúng tôi cố gắng khắc phục khó khăn, gắn bó với Mường Tè”.

Hoàng Thủy

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Đọc thêm

Triển khai “phiếu đi chợ” ở Đà Nằng: Mỗi hộ dân được đi chợ 3 ngày/lần

Triển khai “phiếu đi chợ” ở Đà Nằng: Mỗi hộ dân được đi chợ 3 ngày/lần

(PLVN) - Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, nhằm tăng cường biện pháp phòng, chống dịch đảm bảo an toàn cho người dân, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cũng thống nhất áp dụng “Thẻ đi chợ” trên toàn địa bàn TP từ ngày 8/5. Việc in ấn, phát phiếu đi chợ tại các phường được thực hiện, triển khai nhanh chóng.

 

Vì sao xe quá khổ, quá tải vẫn ngang nhiên hoạt động tại Lào Cai?

Vì sao xe quá khổ, quá tải vẫn ngang nhiên hoạt động tại Lào Cai?
(PLVN) - Mặc dù Công an tỉnh Lào Cai đã ban hành kế hoạch số 683/KH-CAT-PC08 về việc tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm xe chở quá tải, cơi nới thành thùng nhưng xe chở quá khổ, quá tải, cơi nới thành thùng vẫn  ngày đêm ngang nhiên hoạt động trên nhiều tuyến đường thuộc tỉnh Lào Cai, gây mất an toàn giao thông cũng như mỹ quan đô thị.

Báo điện tử Pháp luật Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 303/GP-BTTTT ngày 8/5/2015

Cơ quan chủ quản: Bộ Tư pháp

Tổng biên tập: Tiến sỹ Đào Văn Hội

Phó Tổng biên tập: Trần Đức Vinh

Tòa soạn: Số 42/29 Nguyễn Chí Thanh, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội

E-mail: baodientuphapluat@gmail.com

Hotline: 0353.63.63.55

Liên hệ quảng cáo: 0888 033 376