
Hành trình thầm lặng khi chấp hành viên tìm người được thi hành án:
Kỳ 2: “Chìa khóa” hồi ức nơi đại ngàn
Nếu như hành trình tìm người được THA trong những vụ lừa đảo công nghệ cao là cuộc chạy đua với số lượng đương sự lớn, địa chỉ rải rác khắp nơi, là sự đối diện với những cuộc gọi không liên lạc được thì trên những rẻo vùng cao miền Trung, hành trình này lại mang một màu sắc khác.
Nhiều bản án đã qua hàng chục năm mới có đơn yêu cầu thi hành. Không có mạng xã hội để lần theo dấu vết người cần tìm. Không có cơ sở dữ liệu điện tử để đối chiếu. Có những trường hợp, muốn xác định đúng người nhận tiền, chấp hành viên phải đi tìm những già làng, trưởng bản ở nhiều thế hệ, gõ cửa những vị công an viên từ nhiều năm về trước, hoặc men theo ký ức của cả một cộng đồng dân cư. “Chìa khóa” để thi hành xong một bản án đôi khi lại nằm trong hồi ức của những người dân nơi đại ngàn.
Tư duy ngược tìm về quá khứ
Trải qua nhiều năm công tác tại địa bàn miền núi, khi chuyển về Phòng Nghiệp vụ và Tổ chức thi hành án, Thi hành án dân sự (THADS) tỉnh Nghệ An, Chấp hành viên Nguyễn Văn Công cũng “chuyên trách” nhiệm vụ tìm người được THA trong một số vụ Mua bán người, Mua bán người dưới 16 tuổi... tại các huyện miền núi Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu (cũ).
Nhiều bản án đã qua hàng chục năm mới có đơn yêu cầu thi hành. Thường gặp là trường hợp các phạm nhân sau thời gian chấp hành án phạt tù đã tự nguyện nộp tiền thi hành án (THA) để được xem xét hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước. Khi tiền được chuyển về, cơ quan THADS ban hành quyết định thi hành án thì vấn đề phát sinh: Không tìm thấy người được nhận tiền.
“Có những vụ án đã qua rất nhiều năm, thông tin nhân thân đương sự trong bản án khi ấy chỉ ghi chung chung. Thời điểm chấp hành viên tiến hành xác minh thì địa chỉ thay đổi, người dân chuyển đi nơi khác, không có thông tin liên lạc, thậm chí những người đang sinh sống trên địa bàn còn không biết đương sự là ai”, anh Công kể.

Đặc biệt với các vụ án Mua bán người và Mua bán người dưới 16 tuổi xảy ra ở các xã biên giới Nghệ An, phần lớn nạn nhân là người dân tộc thiểu số, bản án tuyên đã lâu, mức bồi thường có khi chưa đến 10 triệu đồng. Trường hợp người bị hại chưa thành niên, khoản bồi thường được xác định thông qua người giám hộ. Đến khi có đơn yêu cầu THA thì người giám hộ qua đời, người bị hại trưởng thành lập gia đình, chuyển nơi cư trú. Có trường hợp xuất cảnh theo đường tiểu ngạch không rõ đang ở nước nào....
“Hiện nay cơ quan THADS đang vướng nhiều trường hợp như vậy. Tiền thi hành án có rồi, quyết định thi hành án ban hành rồi, nhưng người nhận tiền thì không tìm thấy”, anh Công chia sẻ.
Với địa bàn miền núi, cá nhân Chấp hành viên Nguyễn Văn Công có cách tìm kiếm đương sự khá đặc biệt: Tư duy ngược về thời điểm xảy ra vụ án.
“Muốn tìm người của hiện tại, nhiều khi phải quay về quá khứ. Trong những cộng đồng người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An thường có tình trạng nhiều người trùng cả họ tên lẫn năm sinh, như họ Vi của đồng bào Thái, hay họ Lữ của đồng bào Khơ Mú. Nếu chỉ dựa vào tên tuổi, năm sinh, nơi cư trú thì rất khó xác định được đúng người cần tìm. Phải hỏi những người biết về họ ở thời điểm xảy ra vụ án như các già làng, trưởng bản, công an viên trực tiếp nắm địa bàn. Trong không ít vụ việc tưởng chừng bế tắc, họ chính là những “cơ sở dữ liệu sống” giúp chấp hành viên xác định chính xác người được thi hành án”.
Niềm tin từ sự tận tâm của chấp hành viên
Theo anh Công, nếu chấp hành viên chỉ làm việc với thái độ “vừa đủ” theo quy trình, thông báo hợp lệ xong mà người được THA không hồi âm thì có thể xử lý khoản tiền theo quy định của pháp luật, không cần tốn công sức tìm kiếm, vận động, thuyết phục... Nhưng thực tế, anh và nhiều chấp hành viên khác từ trước đến nay luôn miệt mài đi đến cùng, bằng tâm huyết, trách nhiệm, phát huy hết các kĩ năng, nghiệp vụ để tìm được đúng người và chi trả được tiền cho họ.
“Qua thời gian công tác ở miền núi, tôi hiểu được đời sống của người dân còn khó khăn. Nên dù nhiều lúc việc tìm kiếm người được thi hành án không thuận lợi, tôi vẫn luôn cố gắng liên hệ với chính quyền địa phương, già làng, trưởng bản... để nhờ họ liên lạc với đương sự. Số tiền được nhận có khi không nhiều nhưng là quyền lợi hợp pháp của họ và có thể phần nào hỗ trợ họ trong cuộc sống”, anh tâm sự.

Cũng như Chấp hành viên Nguyễn Trần Kiên ở THADS tỉnh Hà Tĩnh (Kỳ 1 – PV) và nhiều chấp hành viên khác, anh Công không ít lần bị đương sự nghi là “lừa đảo” khi gọi thông báo nhận tiền. “Nhiều người không tin, có người chặn số luôn. Gần đây anh em chấp hành viên bị chặn số nhiều lắm. Người dân đề phòng rất cao... ”, anh Công cười.
Những tình huống này buộc người chấp hành viên phải phát huy kỹ năng vận động, thuyết phục, sao cho người dân tin tưởng mình đúng là cán bộ cơ quan THA và hướng dẫn họ thực hiện các thủ tục để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp.
Tuy nhiên, không phải nỗ lực nào của chấp hành viên cũng có kết quả. Đến nay anh Công vẫn trăn trở với một vụ án đã tìm được người được THA nhưng chưa giải quyết xong.
Theo Bản án số 86/2011/HS-ST ngày 24/10/2011 của TAND tỉnh Nghệ An, bị cáo Lương Văn Thẩm (SN 1987, cư trú bản Na Pu, xã Yên Na, huyện Tương Dương (cũ), tỉnh Nghệ An) bị tuyên 20 năm tù về tội Giết người. Người bị hại là vợ của bị cáo, trú tại xã Mai Lâm, huyện Tĩnh Gia (cũ), tỉnh Thanh Hóa. Về trách nhiệm dân sự, Lương Văn Thẩm phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bố mẹ vợ 41,5 triệu đồng.
Anh Công còn nhớ đây là trường hợp bị cáo từng được miễn án phí do hoàn cảnh khó khăn. Sau hơn chục năm thụ án, đến tháng 7/2024, từ trại giam, Lương Văn Thẩm có đơn đề nghị thi hành án với số tiền tự nguyện nộp là 1.975.000 đồng (tổng cộng từ 3 lần nộp).
Khi được phân công tổ chức THA vụ này, anh Công qua nhiều kênh thông tin đã tìm được đúng địa chỉ của bố mẹ người bị hại. Nhưng người bố đã qua đời, không để lại di chúc; người mẹ cũng không làm các thủ tục nhận tiền bồi thường theo quy định, dù cơ quan THA đã gửi thông báo, hướng dẫn, soạn sẵn các văn bản để tạo thuận lợi nhất có thể.
Chấp hành viên liên hệ với anh trai của người bị hại, kết quả cũng không tiến triển. Thậm chí người anh này còn từ chối cuộc gọi của chấp hành viên.
Trầm ngâm đọc lại nội dung bản án từ tập hồ sơ lưu trữ, anh Công chia sẻ: “Tìm được người nhận tiền đã khó, đến khâu trả tiền cũng không đơn giản. Vụ án trên là một trong số ít trường hợp tôi đang vướng. Còn lại, bằng tất cả chuyên môn nghiệp vụ và nỗ lực thuyết phục, vận động nhiều bên phối hợp, chúng tôi đều cố gắng chi trả được tiền cho người dân”, anh Công cho biết.

Theo các Chấp hành viên, đối với việc tìm người được THA, không phải vụ việc nào cũng giải quyết xong bằng văn bản hành chính hay những quy trình nghiệp vụ khô cứng. Đôi khi để tìm được người cần tìm, chấp hành viên phải bắt đầu từ một cuộc điện thoại cho người quen của họ, một lời nhờ cậy trưởng bản, một cuộc trò chuyện chân thành với người dân...
Để quá trình tổ chức THADS thành công, có những “chìa khóa” không nằm trong hồ sơ, dữ liệu hay văn bản pháp luật, mà nằm trong ký ức của cộng đồng, niềm tin của nhân dân và trong sự tận tâm của chính chấp hành viên.
Trên thực tế, ngay cả khi địa chỉ của người được THA đã rõ thì việc chi trả tiền cho họ cũng không đơn giản. Chấp hành viên Nguyễn Tất Mạnh, Phòng Nghiệp vụ và Tổ chức thi hành án, THADS tỉnh Hà Tĩnh cho biết:
Có những người kiên quyết không nhận tiền vì không đồng tình với bản án và còn muốn làm thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Họ cho rằng nếu nhận thì đương nhiên chấp nhận bản án nên không phối hợp với chấp hành viên.
Ngoài ra, đối với nhiều bản án có yếu tố nước ngoài, khi xét xử thì đương sự ở Việt Nam, đến giai đoạn thi hành án thì nhiều người đã về nước không rõ địa chỉ.
Hoặc đối với các vụ án ly hôn, khi xét xử thì hai người đang ở chung, sau ly hôn mỗi người một nơi, địa chỉ không rõ ràng...
Và hành trình đi tìm người được thi hành của chấp hành viên lại bắt đầu.