logo

eMagazine

Hà Nội: Đột phá phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số để phát triển bền vững

Trong bước chuyển mình hướng tới mô hình tăng trưởng mới, TP Hà Nội đang đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm. Điểm đáng chú ý trong cách làm của TP nằm ở sự thay đổi căn bản trong tư duy quản trị: từ quản lý công việc sang quản trị mục tiêu, từ hỗ trợ nghiên cứu theo cách dàn trải sang đặt hàng giải quyết những bài toán lớn, từ số hóa thủ tục sang xây dựng hệ sinh thái dữ liệu phục vụ quản trị và người dân. Mục tiêu cuối cùng là biến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành năng lực phát triển mới của Thủ đô; biến dữ liệu, công nghệ và nguồn lực trí tuệ thành giá trị kinh tế - xã hội, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: Chinhphu.vn
Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: Chinhphu.vn

4 chuyển biến nổi bật trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành

Một trong những thay đổi có ý nghĩa nền tảng nhất của Hà Nội là đổi mới phương thức tổ chức thực hiện. Ngay sau khi Trung ương xác định phương châm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2026 là “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy đã ban hành Kế hoạch hành động số 20-KH/BCĐ57 ngày 19/1/2026, xác định 20 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và triển khai 30 đề án, dự án, công trình trọng điểm. UBND TP tiếp tục cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 38/KH-UBND ngày 26/1/2026 với 137 nhiệm vụ và 39 dự án thành phần.

Điều đáng nói là việc triển khai không dừng ở cấp TP. Toàn bộ 4 trục của hệ thống chính trị TP gồm Đảng, HĐND, UBND, MTTQ; 5/5 ban Đảng và Văn phòng Thành ủy; 17/17 sở, ngành và 126/126 xã, phường đều đã xây dựng kế hoạch thực hiện.

Quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW trên địa bàn TP Hà Nội cho thấy rõ 4 chuyển biến nổi bật. Thứ nhất là chuyển biến về phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng từ chỉ đạo theo văn bản sang quản trị nhiệm vụ theo đầu mối, thời hạn, sản phẩm đầu ra và minh chứng thực hiện.

Thứ hai, chuyển biến về công cụ quản trị. Toàn TP đang theo dõi 846 nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết 57 số 57-NQ/TW, trong đó đã hoàn thành 416 nhiệm vụ, đang triển khai 430 nhiệm vụ; bước đầu hình thành cơ chế kiểm đếm, cảnh báo, đôn đốc nhiệm vụ theo trạng thái thực hiện.

Thứ ba, chuyển biến về dữ liệu và nền tảng số. TP từng bước hình thành các khối dữ liệu lõi về giáo dục, đất đai, thủ tục hành chính, cán bộ, doanh nghiệp; đồng thời triển khai Kho dữ liệu dùng chung, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu, HanoiWork, iHanoi, IOC và nền tảng AI dùng chung.

Thứ tư, chuyển biến về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. TP đã chuyển từ hỗ trợ nhiệm vụ khoa học, công nghệ đơn lẻ sang đặt hàng bài toán lớn, phát triển Chợ chuyển đổi số, Sàn Giao dịch công nghệ, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội - HiHUB, Quỹ đầu tư mạo hiểm và cơ chế kết nối 3 nhà: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp.

Bốn chuyển biến này cho thấy rõ định hướng của TP trong nhằm đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ra khỏi phạm vi của một lĩnh vực chuyên môn để trở thành phương thức quản trị và phương thức phát triển.

Cơ bản hoàn thiện khung thể chế, chính sách đồng bộ

Đột phá về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trước hết cần một nền tảng thể chế đủ mạnh. Nếu công nghệ có thể phát triển nhanh nhưng thể chế chậm thay đổi, nguồn lực sẽ khó được giải phóng; những mô hình mới khó thử nghiệm và kết quả nghiên cứu khó đi vào đời sống. Thực tế triển khai của TP Hà Nội cho thấy TP đang từng bước giải thành công “bài toán” này.

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 dành riêng Chương V quy định về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tập trung vào 3 nhóm vấn đề lớn gồm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thử nghiệm có kiểm soát; phát triển khu công nghệ cao. Một số nội dung liên quan cũng được quy định tại Điều 25 và 26.

Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết, trên nền tảng đó, Hà Nội đã cơ bản hoàn thiện khung thể chế, chính sách với 10 nghị quyết chuyên đề, đảm bảo những trụ cột quan trọng của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Trong đó, đối với nguồn nhân lực, các Nghị quyết số 92/2026/NQ-HĐND về thu hút, trọng dụng người có tài năng; Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND về một số chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; Nghị quyết số 07/2026/NQ-HĐND về cơ chế hỗ trợ, chi thưởng đối với nhân lực thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hệ thống chính trị TP đã tạo thêm cơ sở để Hà Nội thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn lực con người cho sự phát triển của Thủ đô.

Đối với nghiên cứu, phát triển và nâng cao tiềm lực, các Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND, 25/2026/NQ-HĐND và 27/2026/NQ-HĐND của HĐND TP tập trung vào thúc đẩy nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ hạ tầng và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số cũng như quy định nội dung, định mức chi quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước.

Điểm mới ở các nghị quyết này không chỉ nằm ở số lượng chính sách mà ở tư duy phân bổ nguồn lực. TP dự kiến trong năm 2026 sẽ hỗ trợ tối thiểu 200 trường hợp, nhưng chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang đầu tư có trọng tâm, gắn trực tiếp với những bài toán lớn; chuyển từ quản lý chủ yếu bằng đầu vào sang quản trị theo đầu ra, coi trọng kết quả nghiên cứu, công bố khoa học, sáng chế, giá trị ứng dụng và trách nhiệm giải trình của người được hỗ trợ; chuyển từ tư duy khép kín về sử dụng nhân lực sang tư duy hệ sinh thái, trong đó TP đóng vai trò kiến tạo môi trường để nhân tài phát triển và cống hiến ở những không gian phù hợp nhất.

TP đang đẩy mạnh triển khai 6 Nghị quyết trọng tâm về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: HNP
TP đang đẩy mạnh triển khai 6 Nghị quyết trọng tâm về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: HNP

Trong đổi mới sáng tạo, Nghị quyết số 26/2026/NQ-HĐND thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với giải pháp, công nghệ, mô hình mới còn Nghị quyết số 58/2026/NQ-HĐND thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện đưa ý tưởng, công nghệ và tài sản trí tuệ vào thực tiễn, thị trường.

Ngoài ra, Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND đã tạo cơ chế thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trong khi Nghị quyết số 60/2026/NQ-HĐND về Quỹ Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo TP từng bước tạo ra công cụ tài chính chuyên biệt cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Như vậy, từ nhân lực, nghiên cứu, hạ tầng, thử nghiệm, khởi nghiệp, chuyển đổi số đến tài chính, Hà Nội đang hình thành một chuỗi chính sách tương đối đồng bộ. Đây là điều kiện cần để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành một cấu phần của năng lực cạnh tranh đô thị.

Khoa học, công nghệ từng bước trở thành động lực tăng trưởng mới

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực then chốt của phát triển.

Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trương Việt Dũng cho biết, với vị trí, vai trò của Thủ đô, Hà Nội xác định trách nhiệm của mình không chỉ là tổ chức thực hiện tốt các chủ trương của Trung ương, mà phải tiên phong đổi mới tư duy, chủ động triển khai những mô hình, cách làm mới, tạo ra những kết quả thực chất có thể chia sẻ và nhân rộng.

Tinh thần xuyên suốt của Hà Nội là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm công cụ nâng cao năng lực quản trị; lấy những bài toán thực tiễn của Thành phố, của người dân và doanh nghiệp làm đầu bài; lấy kết quả thực chất, có thể đo lường được làm thước đo.

Với cách làm quyết liệt, đồng bộ trên cả 3 trục chiến lược khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, khoa học, công nghệ đang từng bước trở thành động lực tăng trưởng mới của Thủ đô. Điều này thể hiện rõ nét ở việc TP công bố danh mục 30 bài toán lớn của TP để thu hút các nhiệm vụ, giải pháp KHCN, ĐMST và CĐS vào giải quyết.

Trên khía này, cần chú ý là Hà Nội đang thay đổi cách đặt hàng khoa học, công nghệ. Thay vì tài trợ cho những nghiên cứu không gắn với thực tiễn, TP chuyển sang đặt hàng giải quyết các bài toán lớn. TP xác định rõ quan điểm khoa học, công nghệ phải tạo ra kết quả vận hành được, đo đếm được và phục vụ trực tiếp người dân.

Trên cơ sở đó, Hà Nội đã công bố danh mục 30 bài toán lớn, được thiết kế dưới dạng các câu hỏi chiến lược để thu hút giải pháp của toàn xã hội. Các bài toán tập trung vào 4 nhóm điểm nghẽn đô thị kéo dài; không gian đô thị; kinh tế và công nghệ; an ninh, an sinh và phát triển bền vững. Đối với từng bài toán, phương án triển khai đã xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm có khả năng hình thành trong năm 2026 và lộ trình tiếp tục thực hiện đến năm 2030.

Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: Chinhphu.vn
Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: Chinhphu.vn

Cách tiếp cận này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Hà Nội phải đồng thời giải quyết các vấn đề của một đô thị lớn và tạo thêm không gian cho tăng trưởng. Cách làm như vậy giúp tập trung hóa các giải pháp của toàn TP vào giải quyết các vấn đề lớn, trọng tâm, tránh lan man, dàn trải nguồn lực dẫn đến lãng phí, kém hiệu quả; đồng thời trở thành căn cứ trong việc đặt hàng, tài trợ cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ của TP.

Khi nguồn lực được tập trung vào những điểm nghẽn cụ thể, khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ và năng suất mới sẽ cao hơn. Thực tế, một số nhiệm vụ, sản phẩm đã được triển khai để xử lý 5 điểm nghẽn của TP như camera AI phục vụ an ninh, trật tự; Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh; Trung tâm dữ liệu dùng chung; các giải pháp giao thông thông minh, quản lý bãi đỗ xe, dữ liệu và giám sát môi trường.

Một điểm đáng chú ý khác là yêu cầu triển khai nhiệm vụ khoa học theo mô hình 3 Nhà: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp. Trong đó, vốn Nhà nước được xác định là “vốn mồi”, thu hút doanh nghiệp đồng hành từ đầu để bảo đảm đầu ra sản phẩm, đồng thời giúp định hướng nghiên cứu của nhà trường phù hợp nhu cầu thị trường và khả năng sản xuất công nghiệp.

Từ cách tiếp cận này, một số sản phẩm có khả năng tạo ra ngay trong năm 2026, điển hình là việc nghiên cứu thiết kế, chế tạo xe thang cứu hộ có tầm vươn 32m và 56m hướng tới tỷ lệ nội địa hóa 70%, đồng thời có tiềm năng đáp ứng nhu cầu thị trường Đông Nam Á.

Cùng với đó, Hà Nội đã ban hành danh mục công nghệ chiến lược giai đoạn 2026-2035, xác định 9 nhóm công nghệ chiến lược và 25 sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên. Một số hướng được ưu tiên gồm Blockchain, camera AI xử lý tại biên, robot tự hành và UAV/Drone.

Thông qua việc xác định rõ công nghệ và sản phẩm ưu tiên, TP có thể tập trung nguồn lực, tránh đầu tư dàn trải, từng bước làm chủ công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và hình thành các sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Hà Nội.

Một hướng đi khác của TP đang chứng minh hiệu quả là phát triển các AI trong các lĩnh vực thiết yếu. Kết quả thí điểm thành công mô hình “cô giáo AI” tại 3 trường THCS cho thấy các mô hình tích hợp AI tạo ra hiệu ứng tốt trong việc cung cấp, đổi mới các hoạt động truyền thống và có nhu cầu sử dụng cao từ người dùng.

Từ thực tiễn thí điểm, TP dự kiến tiếp tục mở rộng triển khai cho hệ thống các cơ sở giáo dục và các lĩnh vực thiết yếu khác của TP như y tế, du lịch. Điều này cho thấy công nghệ đang dần được nhìn nhận không phải như một mục tiêu tự thân mà là công cụ giải quyết những nhu cầu cụ thể của xã hội.

Chuyển mạnh từ chủ trương sang thiết chế thực thi

Nếu thể chế là nền tảng thì các thiết chế thực thi chính là nơi quyết định chủ trương có biến thành kết quả hay không.

Ở khía cạnh này, một trong những cách làm đã chứng minh được hiệu quả của TP Hà Nội là hình thành các công cụ và thiết chế thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, mà điển hình là việc TP là địa phương đầu tiên triển khai mô hình OKR/KPI trong khu vực công, chuyển đổi căn bản từ “kiểm đếm nhiệm vụ” sang “quản trị mục tiêu, hiệu suất và kết quả then chốt cuối cùng”.

Các OKR chiến lược được phân rã thành OKR của từng cơ quan, đơn vị và được đo lường bằng các KPI cụ thể; nhiệm vụ gắn với từng cơ quan, cá nhân và được theo dõi theo thời gian thực. Sau giai đoạn thí điểm trong tháng 3, từ tháng 4/2026 mô hình được triển khai nhân rộng trong toàn hệ thống chính trị, tích hợp trên Không gian làm việc số.

TP là địa phương đầu tiên triển khai mô hình OKR/KPI trong khu vực công. Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: PV
TP là địa phương đầu tiên triển khai mô hình OKR/KPI trong khu vực công. Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: PV

Ý nghĩa sâu xa của mô hình này là tạo ra một phương thức quản trị công dựa nhiều hơn vào dữ liệu và kết quả. Qua đó, từng bước hình thành “Hồ sơ năng lực số” phục vụ công tác cán bộ, giảm đánh giá cảm tính và tăng trách nhiệm của người đứng đầu. Đến tháng 8, đã có 42.359 cán bộ thực hiện đánh giá, trong đó có 414 lãnh đạo thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý.

Song song với đổi mới quản trị nội bộ, Hà Nội đang hình thành những thiết chế mới cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, như Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội - HiHUB được vận hành theo mô hình công ty cổ phần, tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội và cung cấp dịch vụ đổi mới sáng tạo theo cơ chế thị trường.

HiHUB cũng bước đầu đóng vai trò như một “phòng thí nghiệm thể chế”, đánh giá 50 dịch vụ công và 67 thủ tục hành chính thiết yếu, qua đó nhận diện các điểm nghẽn đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình.

Ngoài ra, Chợ Chuyển đổi số Hà Nội cũng từng bước trở thành kênh kết nối giải pháp số cho cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Những thiết chế này có điểm chung: đưa cung - cầu công nghệ đến gần nhau hơn, giảm khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường.

Một công cụ khác có tính đột phá là Quỹ đầu tư mạo hiểm được thành lập theo hình thức hợp đồng BCC, kết hợp nguồn lực chính quyền với các nhà đầu tư chiến lược.

Những mô hình trên cho thấy đổi mới sáng tạo ở Hà Nội đang được chuyển từ khẩu hiệu thành hệ thống thiết chế cụ thể: có nơi kết nối, có thị trường công nghệ, có cơ chế thử nghiệm và có công cụ tài chính.

Đồng thời, đổi mới sáng tạo cũng đang được gắn với những lĩnh vực phát triển mới. Trong kinh tế bạc, Hà Nội đã triển khai thí điểm mô hình cơ sở chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi tại 5 xã, phường. Các cơ sở kết hợp theo dõi sức khỏe, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, chăm sóc tinh thần và hoạt động văn hóa, cộng đồng.

Trong công nghiệp văn hóa, công nghệ 3D mapping, thuyết minh tự động, mã QR, bản đồ số và các ứng dụng di động đang được đưa vào Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, Bảo tàng Hà Nội và nhiều di tích, mở ra cách thức mới để khai thác giá trị di sản và tạo sản phẩm văn hóa có khả năng gia tăng giá trị kinh tế.

Người dân là trung tâm của những thành quả phát triển

Thước đo cuối cùng của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không nằm ở số lượng nền tảng được xây dựng, mà ở việc người dân có được phục vụ tốt hơn hay không, doanh nghiệp có giảm chi phí hay không và chất lượng cuộc sống có được nâng lên hay không.

Ở góc độ này, chuyển đổi số của Hà Nội đang tạo ra những kết quả ngày càng cụ thể. Không gian làm việc số HanoiWork được xây dựng với mục tiêu chuyển trọng tâm từ quản lý văn bản sang quản trị công việc, quy trình và kết quả trên môi trường số. Hệ thống tích hợp trao đổi công việc, họp trực tuyến, chia sẻ thông tin và các trợ lý AI phục vụ công vụ.

Người dân thực hiện thủ tục hành chính ngày càng thuận lợi hơn. Ảnh: PV
Người dân thực hiện thủ tục hành chính ngày càng thuận lợi hơn. Ảnh: PV

Công tác giao việc, theo dõi, đôn đốc và đánh giá được số hóa theo nguyên tắc “6 rõ - 1 xuyên suốt”, gắn từng nhiệm vụ với sản phẩm đầu ra, tiến độ, chất lượng và trách nhiệm. Đến nay, 183/183 đơn vị đã thiết lập danh mục nhiệm vụ, sản phẩm dùng chung; 877.672 nhiệm vụ được tạo lập trên hệ thống, trong đó có 13.393 nhiệm vụ chiến lược. Hệ thống cũng tích hợp các dashboard điều hành giúp lãnh đạo theo dõi tiến độ, nhận diện nhiệm vụ chậm, quá hạn hoặc có nguy cơ không hoàn thành, qua đó kịp thời chỉ đạo, điều phối nguồn lực và ra quyết định trên cơ sở dữ liệu.

Đáng chú ý, đầu tư cho chuyển đổi số cũng được tính toán trên cơ sở hiệu quả sử dụng ngân sách. Việc trang bị máy tính, thiết bị đầu cuối và thiết bị họp trực tuyến cho khoảng 7.411 cán bộ được ước tính giúp tiết kiệm khoảng 150 tỷ đồng chi phí vận hành mỗi năm, tương đương khoảng 750 tỷ đồng trong chu kỳ 5 năm.

Ở góc độ kinh tế, chuyển đổi số đang bắt đầu tạo ra đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng. Ước tính 6 tháng đầu năm 2026, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 16,7% GRDP Hà Nội, tương đương khoảng 5,5 tỷ USD giá trị tăng thêm, tăng 10,6% so với cùng kỳ và đóng góp trực tiếp khoảng 1,1 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng GRDP 8,2% của TP.

Đây là con số cho thấy kinh tế số không còn chỉ là một xu hướng mà đang trở thành một cấu phần của nền kinh tế Thủ đô.

Đặc biệt, với người dân, “cửa ngõ số” iHanoi đang từng bước hình thành một không gian tương tác mới giữa chính quyền và công dân. Nền tảng đã có trên 6,2 triệu tài khoản định danh, được định vị theo kiến trúc Super App và nền tảng mở, cho phép doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia cung cấp dịch vụ thông qua các Mini App.

iHanoi đã tiếp nhận và xử lý 107.620 phản ánh, kiến nghị, trong đó có 12.708 phản ánh về thủ tục hành chính và 94.912 phản ánh hiện trường. Người dân có thể gửi nội dung, hình ảnh, vị trí và theo dõi quá trình xử lý trên môi trường số. Từ giao thông, y tế, giáo dục, môi trường, quy hoạch, văn hóa - du lịch đến thanh toán và dịch vụ công, nhiều tiện ích đã được tích hợp trên một nền tảng. Khi người dân có thể phản ánh một vấn đề của đô thị, theo dõi tiến độ giải quyết và tiếp cận dịch vụ công trên cùng một không gian số, chuyển đổi số bắt đầu trở thành một phần trực tiếp của đời sống đô thị.

UBND TP Hà Nội ký thỏa thuận hợp tác với 4 đơn vị về đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu chuyển giao công nghệ trong phát triển hệ sinh thái bán dẫn. Ảnh: HNP
UBND TP Hà Nội ký thỏa thuận hợp tác với 4 đơn vị về đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu chuyển giao công nghệ trong phát triển hệ sinh thái bán dẫn. Ảnh: HNP

Đằng sau những tiện ích đó là quá trình xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Trong y tế, Hà Nội đã chuẩn hóa và quản lý 9.345.052 người trên phần mềm Hồ sơ sức khỏe điện tử; 9.251.298 người đã có thông tin sức khỏe, đạt 99% số dân đã chuẩn hóa. Hệ thống đã tích lũy, liên thông khoảng 27,5 triệu lượt khám chữa bệnh, khám sức khỏe và 35 triệu mũi tiêm chủng.

Trong giáo dục, Kho học liệu số dùng chung trên Hanoi Study có gần 800.000 học liệu, bao phủ chương trình phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12, từng bước tạo hạ tầng tri thức số dùng chung cho giáo dục Thủ đô.

Trong lĩnh vực đất đai, TP đã tạo lập dữ liệu không gian cho khoảng 4,9 triệu thửa đất, xây dựng cơ sở dữ liệu cho khoảng 3,2 triệu thửa; xác minh, định danh 2.895.055 thửa thông qua đối soát dữ liệu dân cư. Quá trình số hóa cũng giúp nhận diện hơn 450.700 thửa chưa được cấp giấy chứng nhận và hơn 288.500 thửa chưa đăng ký kê khai.

Một ví dụ rất gần với đời sống là HanoiCheck - hệ thống cơ sở dữ liệu về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm học đường. Hệ thống số hóa toàn bộ chuỗi quản lý bữa ăn “từ nguồn cung đến bàn ăn”, kết nối nhà trường, nhà cung cấp, cơ quan quản lý và phụ huynh. Camera AI, mã QR, chữ ký số, hồ sơ dinh dưỡng điện tử và dashboard thời gian thực được kết hợp để chuyển từ kiểm tra sau sự cố sang giám sát chủ động.

Những ví dụ này cho thấy chuyển đổi số đang dần đi vào những vấn đề rất cụ thể của đời sống, từ một bữa ăn học đường an toàn hơn, một hồ sơ sức khỏe đầy đủ hơn, một thủ tục minh bạch hơn, một phản ánh của người dân được theo dõi đến cùng. Đó cũng chính là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ thành công của chuyển đổi số.

Từ “số hóa” đến năng lực phát triển bền vững

Nhìn tổng thể, Hà Nội đang đứng trước một bước chuyển quan trọng: từ ứng dụng công nghệ vào từng lĩnh vực sang xây dựng một hệ sinh thái phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu.

Tinh thần xuyên suốt mà TP xác định là chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm công cụ nâng cao năng lực quản trị; lấy những bài toán thực tiễn của TP, người dân và doanh nghiệp làm đầu bài; lấy kết quả thực chất, có thể đo lường được làm thước đo.

Đây chính là điểm cốt lõi của câu chuyện phát triển bền vững. Bởi xét đến cùng, khoa học và công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi tạo ra sản phẩm mới, năng suất mới và thị trường mới. Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp bộ máy hoạt động hiệu quả hơn, doanh nghiệp giảm chi phí, người dân tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn. Đổi mới sáng tạo chỉ tạo ra giá trị khi có thể đi từ ý tưởng đến thử nghiệm, từ thử nghiệm đến sản phẩm và từ sản phẩm đến thị trường.

Với những bước đi đang được triển khai, Hà Nội đang dần tạo lập và vận hành hiệu quả chu trình phát triển mới: thể chế mở đường - khoa học, công nghệ tạo giải pháp - đổi mới sáng tạo tạo sản phẩm - chuyển đổi số tạo phương thức vận hành - dữ liệu tạo năng lực quản trị - người dân và doanh nghiệp tạo ra nhu cầu, đồng thời thụ hưởng thành quả.

Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: Chinhphu.vn
Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: Chinhphu.vn

Ở đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là những chương trình riêng lẻ mà trở thành hạ tầng mềm của một Thủ đô hiện đại và Hà Nội không chỉ đạt tốc độ tăng GRDP, mà còn có năng lực tạo ra giá trị mới, chất lượng sống mới và một phương thức quản trị mới. Đây cũng là cách Hà Nội cụ thể hóa vai trò tiên phong của Thủ đô: biến chủ trương thành kết quả, biến nguồn lực thành giá trị và biến những mô hình hiệu quả thành động lực lan tỏa cho phát triển.

Minh Khôi