Những “đại gia thuốc chữa bệnh” thời Pháp thuộc

Thứ Hai, 5/11/2018 05:30 GMT+7
(PLO) - Trong các ngành công kỹ nghệ tại miền Nam khoảng những năm 1950 – 1970, nhiều người cũng biết làm giàu bằng công thức: Chuyên buôn bán một món hàng thông dụng, rẻ tiền nhưng có lợi tức lớn lao ít ai ngờ. Thời thế đã giúp họ làm giàu nhanh chóng. Trong giới bình dân, họ được mệnh danh là những “Ông vua”.
Những “đại gia thuốc chữa bệnh” thời Pháp thuộc
Nhà thuốc Tây đầu tiên của Sài Gòn

“Vua thuốc đỏ”

Trong những nhà giàu bằng nghề y dược ở miền Nam trước đây La Thành Nghệ là một khuôn mặt nổi bật, được nhiều người biết tiếng.

Vốn người Triều Châu, sinh trong gia đình giàu có, La Thành Nghệ được du học bên Pháp và đậu bằng Dược sĩ. Nếu sắp hạng những nhân vật giàu có, tiếng tăm thuộc ngành y dược thời xa xưa tại miền Nam, thì La Thành Nghệ thuộc lớp sau Trần Kim Quan, nhưng đồng thời với các dược sĩ Trần Văn Lắm, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Thị Hai…

La Thành Nghệ được dân chúng gọi “vua thuốc đỏ”, một sản phẩm rất tầm thường, giá trị kinh tế thấp, nhưng được mọi giới ưa chuộng và rất phổ thông từ thành thị tới thôn quê. Khi chiến tranh càng ngày càng leo thang, nhu cầu sử dụng thuốc đỏ càng nhiều thì La Thành Nghệ đã được phép làm đại lý độc quyền phân phối thuốc đỏ, đem lại cho ông một nguồn lợi rất lớn.

Ngoài ra, La Thành Nghệ còn nhập cảng thuốc trụ sinh (thuốc kháng sinh), một thứ “thần dược” trị các vết thương. Trong các ngành công kỹ nghệ tại miền Nam khoảng những năm 1950 – 1970, nhiều người cũng biết làm giàu bằng công thức trên: Chuyên môn buôn bán một món hàng thông dụng, rẻ tiền nhưng có lợi tức lớn lao ít ai ngờ. Thời thế đã giúp họ làm giàu nhanh chóng. Trong giới bình dân, họ được mệnh danh là những “Ông vua” như:

- Vua vương quốc Chợ Lớn: Bang trưởng Triều Châu Trần Thành.

- Vua sắt thép, dệt: Lý Long Thân.

- Vua lúa gạo: Mã Hỉ, Lại Kim Dung (bà này còn được gọi “nữ hoàng gạo”).

- Vua nông cụ: Lưu kiệt, Lưu Trung (đại lý nhập cảng độc quyền và phân phối nông cơ).

Vua ngân hàng: Nguyễn Tấn Đời…

Khi chiến tranh leo thang, tiền viện trợ đổ vào ồ ạt, tạo ra hiện tượng toàn dụng nhân công, các nhu cầu xã hội gia tăng, khiến cho công cuộc làm ăn của các “ông vua” ấy phất lên như diều gặp gió.

Ít ai nghĩ rằng với một thứ sản phẩm tầm thường, rẻ tiền như thuốc đỏ mà làm nên sự nghiệp kếch xù của La Thành Nghệ. Thuốc đỏ, tiếng Pháp gọi là Mercure crome, một thứ dung dịch màu đỏ, dùng bôi lên các vết thương nhẹ để sát trùng. Chiến sự leo thang, nhu cầu sử dụng thuốc đỏ và trụ sinh lên cao.

Thời đó, thuốc đỏ do dược phòng Laboratoire La Thành sản xuất, được sử dụng trong các bệnh viện, các quân y viện, các trung tâm y tế, các đơn vị quân y… và rất được dân chúng từ thành thị tới thôn quê ưa chuộng vì nó rẻ và hiệu nghiệm.

 Bán thuốc dạo theo kiểu "sơn đông mãi võ"

Ngoài hai loại thuốc đỏ và trụ sinh, viện bào chế “La Thành” (Laboratoire La Thành) của ông La Thành Nghệ còn sáng chế một thứ pommade để thoa trị “bịnh phong tình”. Bịnh này thường có mụt mụn đỏ. Muốn điều trị chỉ cần xức pommade vào chỗ đó sau khi rửa vết thương cho sạch bằng thuốc đỏ. Chỉ vài ba lần xức pommade, người bịnh cảm thấy dễ chịu, không ngứa rát và bình phục dần dần. Thuốc này không gây đau đớn và biến chứng. 

Các thanh niên bị bệnh này thường có mặc cảm không muốn đến bệnh viện hay đi bác sĩ tư để chữa trị. Họ mua thuốc pommade của dược sĩ La Thành Nghệ tự chữa lấy. Nhờ biết được yếu tố tâm lý ấy và sự công hiệu của thuốc, La Thành Nghệ bán sản phẩm này chạy như tôm tươi. Khi trở nên giàu có, La Thành sống thầm lặng, ít khoe khoang hay ăn chơi trác táng như một số nhà giàu khác. 

La Thành Nghệ, là người chỉ giao thiệp với hạng nhà giàu và thượng lưu trí thức ở Sài gòn. Tuy sống trên đống vàng, nhưng ông không phung phí tiền bạc để mang tai tiếng như nhiều người khác. Năm 1967, La Thành Nghệ ra ứng cử Nghị sĩ, chung liên danh “Bạch Tượng” của Dược sĩ Trần Văn Lắm và đắc cử. Ông Trần Văn Lắm có lúc làm Phó chủ tịch Thượng viện và Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Nguyễn Văn Thiệu.

Tuy nhiên, danh nghĩa Nghị sĩ chỉ để trang trí cho La Thành Nghệ hơn là nghề hái ra liền như viện bào chế La Thành của ông. Do đó, trong thời gian tham chính, dư luận hay báo chí không nghe ông tuyên bố hay có hành động chính trị nào tỏ ra tham quyền cố vị… Ông cũng tránh xa các áp-phe làm ăn của các ông tai to mặt bự khác.

“Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”

Ông bà ta thượng nói: “Nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh”. Trong giới bình dân, người trong gia đình cũng hay dặn cho cháu: “Sành một nghề sung sướng một đời”. Cả hai câu đều ngụ ý khuyên con người ở đời chớ khinh hay trọng một nghề nào hơn nghề nào. Nghề nào cũng cao quý. Nếu giỏi một nghề chắc chắn được ấm no, sung sướng.

Những vị lương y, các dược sĩ Đông Tây y chỉ nhỏ sáng chế được một vài thứ thuốc gia truyền công hiệu, trở nên giàu có, được dân chúng miền Nam nhắc nhở tên buổi. Kể về các lương y, dược sĩ sáng chế các loại thuốc thông dụng, rẻ tiền nhưng hiệu nghiệm, được quần chúng ủng hộ thời xưa, được biết:

- Võ Văn Vân nổi tiếng với thuốc “Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn”.

- Bác sĩ Bùi Kiến Tín với “Dầu gió khuynh diệp”.

- Dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều với “Nguyễn Chí Dược Cuộc”.

Những năm 1954 – 1963, ông Ngô Đình Diệm mở chiến dịch khuyến khích dân chúng dùng hàng nội hoá, để thay thế hàng hoá Pháp. Nhiều món hàng hoá, thuốc men mới sáng chế trong dịp này trở nên thông dụng và làm tăng uy tín của hàng nội hoá. Các Đông y sĩ, dược sĩ Tây y, bác sĩ… thời đó thành công nhờ hoàn cảnh một phần. Phần lớn họ nhờ sản phẩm có uy tín, được người tiêu dùng tín nhiệm.

Ông Võ Văn Vân là người sáng lập nhà thuốc Võ Văn Vân lại Thủ Dầu Một, tức tỉnh Bình Dương hồi trước năm 1975. Hai sản phẩm nổi tiếng của dược phòng Võ Văn Vân là:

- “Bá đả quân sơn tán” trị bịnh đau lưng, nhức mỏi rất công hiệu. Hồi đó các xe đi bán quảng cáo thuốc của nhà thuốc Võ Văn Vân còn khoe rằng “Bá đả quân sơn lán” là thuốc trị bịnh đánh bị té, các võ sĩ, các người lao động chân tay như làm ruộng, làm công (vác lúa, chèo ghe, móc mương, bồi vườn…) đều phải uống thuốc này, vì nó “hiệu nghiệm như thuốc tiên!”.

- “Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn” trị bịnh yếu sinh lý, tráng dương, bổ thận, dùng cho đàn ông để tăng cường sinh lực.

Các năm 1955 - 57, các nhà thuốc thường tổ chức những xe thuốc đi bán dạo các miền quê. Mỗi xe có người làm trò vui như xiếc, ảo thuật, kịch ngắn để thu hút khán giả. Xen kẽ vào những trò vui ấy là màn bán thuốc. Người lúc ấy gọi các xe bán thuốc dạo đó là “Sơn Đông Mãi Võ”.

Tuy là Đông y sĩ, nhưng ông Võ Văn Vân lại cho các con qua Pháp du học các ngành y, dược. Trong số các con của Võ Văn Vân, có ông Võ Văn Ứng, từng nổi tiếng là Mạnh Thường Quân của các bộ môn thể thao ở Sài Gòn. Ông Võ Văn Ứng còn làm Tổng giám đốc Nam Đô Ngân hàng, khách sạn Nam Đô. 

Một nhà thuốc Đông y khác, cũng nổi tiếng đồng thời là nhà thuốc Võ Đình Dần ở Chợ Lớn, có thuốc ích khí bổ thận “Cửu Long Hoàn”, chuyên trị mệt mỏi, lao tâm lao lực, được quảng cáo sâu rộng, nên bán rất chạy. Thời đó, hầu như ai cũng thuộc lòng câu: “Một viên Cửu Long hoàn bằng 10 thang thuốc bổ” của nhà thuốc Võ Đình Dần.

Nhà thuốc này cũng có một đội ngũ chuyên môn đi bán dạo khắp thôn quê, gồm 5 xe cam nhông. Thuốc “Cửu Long hoàn” được quảng cáo là các người lao tâm, lao lực, thức đêm, làm việc nhiều như các vũ nữ ở các vũ trường, các nghệ sĩ sân khấu cải lương, các tay cờ bạc… tóm lại những kẻ lấy ngày làm đêm đều dùng “Cửu Long hoàn”, để phục hồi sức lực. 

Quảng cáo sản phẩm qua các sự kiện thể thao

Một dược sĩ Tây y khác cũng thành công và nổi tiếng nhờ thứ thuốc ban nóng, cảm ho của trẻ em là ông Nguyễn Chí Nhiều. Ông Nhiều lập “Nguyễn Chí Dược Cuộc”, sản xuất vài thứ thuốc thông dụng mà thuốc ban nóng cho trẻ em chiếm phần lớn.

Thuốc này hiệu nghiệm, nhưng nhờ cách quảng cáo khéo, nên được phổ biến sâu rộng trong quần chúng thôn quê. Thuốc ban nóng cảm ho “Euquinol” quen thuộc đối với các bà nội trợ thành thị lẫn các nông dân miền quê. Hễ ai có con nóng, thì người nhà hay lối xóm liền thúc hối hãy mua thuốc “Euquinol”.

Bán thuốc cao đơn hoàn tán

Ông Nguyễn Chí Nhiều là người có sáng kiến, biết lợi dụng các cuộc tranh tài thể thao để quảng cáo sản phẩm. Cuộc đua xe đạp đường trường nào tổ chức cũng có các xe thuốc “Euquinol” đi kèm. Thuốc “Euquinol” chế theo dạng thuốc Tây bằng bột màu trắng, như có lân tinh, khác với hình dạng gói thuốc “Cao đơn hoàn tán” của các tiệm thuốc Bắc tung ra thị trường.

Thuốc ban “Euquinol” của Nguyễn Chí Nhiều vừa rẻ tiền, vừa hiệu nghiệm, lại được quảng cáo sâu rộng, được bày bán trong các tiệm trữ dược, các liệm tạp hoá, nên dân chúng mua dễ dàng. Dần dần thuốc ban “Euquinol” đánh bại thuốc “Ngoại cảm tán” của nhà thuốc Nhị Thiên Đường, độc chiếm thị trường mấy thập niên.

Nguyễn Chí Nhiều còn nổi tiếng trong một lãnh vực khác: Thể thao. Ông Nhiều cũng là Mạnh Thường Quân của bộ môn đua xe đạp. Ông từng được gọi là “Ông bầu” của đoàn cua-rơ “Euquinol”. Đoàn cua-rơ này là một ê-kíp gồm những tay đua do chính ông tuyển chọn, tài trợ để tập dượt, tranh tài trong các cuộc đua “Vòng Cộng hoà” từ năm 1956 trở đi.

Đội tuyển xe đạp của ông Nhiều khoác áo “Đội Euquinol”. Đây là một đội dua xe đạp chuyên nghiệp, dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều phát lương để tập dợt, mua xe đạp và cung cấp phụ tùng. Khi đã trở thành cua-rơ của đội “Euquinol” họ khỏi bận tâm lo sinh kế, ngoài chuyện cố tâm luyện lập.

Vì thế đội “Euquinol”, thường lập được nhiều thành tích, chiếm các giải đồng đội và cá nhân hơn các đội khác. Những điều đó làm cho họ thêm hứng chí mà món thuốc “Euquinol” cũng được dịp phô trương tên tuổi khắp nơi.

Còn phải kể đến nhà thuốc Nhành Mai ở Phú Nhuận, nổi tiếng với món thuốc dưỡng thai hiệu “Nhành Mai”. Có câu thơ chọc ghẹo: “Bớ cô con gái nhà ai? Chưa chồng mua thuốc dưỡng thai uống liền”.

Ngoài ra nhà thuốc này có món thuốc dán hiệu Nhành Mai, trị mụt nhọt rất hay. Không cần phá miệng mụt nhọt, chỉ cần trét thuốc vào miếng vải cắt tròn, lớn cỡ đồng xu lá bài, rồi dán lên mụn nhọt. Chừng vài ngày sau, gỡ miếng vải ra thì lành ngay hai hôm sau. 

Một hãng thuốc khác do người Hoa ở Chợ Lớn bào chế gọi là nhà thuốc “Đại Quang”, nổi tiếng với món thuốc Đông y “Huyết Trung Bửu”, loại thuốc điều hoà dành cho phụ nữ. Thuốc này át món “Nữ Kim Đơn” vì nhờ quảng cáo mạnh trên các báo chí ở Sài Gòn. Đã vậy, hãng “Đại Quang” cũng như nhà thuốc Ông Tiên (của Nguyễn Hoàng Hoạnh), cứ mỗi năm cho ra cuốn sách quảng cáo, có truyện ngắn, thơ, có chuyện lịch sử, bài ca vọng cổ… để giới thiệu các thứ thuốc của hãng mình.

Sau năm 1945, có nhà thuốc “Đại Từ Bi” cũng có xe cam nhông bít mui, bán dạo khắp Nam Kỳ lục tỉnh, từ thành thị đến thôn quê, đặc biệt là các tài tử biết ca vọng cổ, biết đóng tuồng cải lương, hát giúp vui mỗi khi xe neo ở một địa điểm nào đó để bán thuốc. 

“Cuộc chiến” Tây y – Đông y

Trước năm 1954, người ta thường chê thuốc Tây nóng, nên không dùng. Cho nên ở thành phố, ở thôn quê, các tiệm thuốc Bắc mọc lên như nấm. Người khách trú, một khi mở tiệm thuốc, ngoài các dược thảo, dược phẩm, còn bán thêm các loại cao đơn hoàn tán do các nhà thuốc Việt Nam bào chế, và thuốc đặc chế từ bên Trung Quốc như Thượng Hải, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây nhập cảng vào. 

Nhưng thuốc Trung Quốc không cạnh tranh lại các loại thuốc Đông y do các Đông y sĩ người Việt sáng chế, vì toa thuốc nhập cảng qua, in bằng chữ Nho, ít ai đọc được. Ngoài ra, còn các món thuốc loại mỹ phẩm như “Bạch ngọc cao”, một loại kem xức cho da mặt mịn màng, như “Bóng nha duyên” dùng để chà răng cho trắng.

Sài Gòn – Chợ Lớn những năm 1940 - 1950

Tuy nhiên “Bóng nha duyên” xúc miệng không thơm bằng phấn chà răng của Tây đặc chế như Kool, Gibbs, nên bán không chạy ở ngoài tỉnh thành. Còn dân miện vườn thì dùng xác vỏ cau chà răng, không biết dùng bàn chải…

Đến khi kem đánh răng Leyna xuất hiện với cái nhãn in hình nữ minh tinh Kim Vui cười phô răng, sau đó là kem Hynos với người đàn ông da đen cười răng trắng nhởn, thì Kool và Gibbs cáo chung. Còn “Bóng nha duyên” cũng không trống không kèn lặn mất.

Dân thương hồ, tức những người buôn bán trên sông rạch, kèm với các tập sách mỏng in luồng cải lương thâu thanh vào đĩa nhựa, kèm với đĩa hát máy, kim hát máy, sách vở, giấy bút, trà, vải, họ còn bán thêm cao đơn hoàn tán. Có vậy, dân quê ở các địa danh hẻo lánh, mà người dân Nam Kỳ gọi là dân quê ở “hóc Bà Tó” mới có thuốc để dùng.

Nếu nhắc lại những nhà thuốc Tây ở Sài gòn trước năm 1940, thì có nhà thuốc Tây nằm trên đường Catinat, từ nhà thờ Đức Bà đi xuống mé sông gồm có: “Pharmacie Mus” của ông Beniot. Xuống tới nhà hát Tây, có “Pharmacie Sohrenne”, không nằm trên đường Calinat (Nguyễn Huệ), mà nằm ở con đường nhỏ tên Francis Garnier, tẻ từ đường Catinat. Ngoài ra, còn có “Pharmacie Normale”, “Pharmacie de France”. Đó là những nhà thuốc Tây mà chủ nhân đều là dược sĩ người Pháp. Nhà thuốc nào cũng có phòng bào chế riêng để chế thuốc theo toa bác sĩ. 

Các nhà thuốc mà chủ nhân là người Việt gồm có: Nhà thuốc “Cường Lắm” ở góc đường Mạc Mahon (Công Lý) và đường Bonard (Lê Lợi). Chủ nhân là dược sĩ Trần Văn Lắm. Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, ông Lắm trở thành Thượng nghị sĩ và Ngoại trưởng.

Ngoài ra còn có “Pharmacie Lý”, chủ nhân là dược sĩ Nguyễn Thị Lý. “Pharmacie Dương Hữu Lễ”, chủ nhân là dược sĩ Dương Hữu Lễ ở đường Rue d’espagne (Lê Thánh Tôn). Còn “Pharmacie Nguyễn Văn Cao” góc đường Chợ Mói và đường Bonard.

Riêng về trường hợp tỉnh Vĩnh Long, có những nhà thuốc Tây như: Nhà thuốc Tây Nguyễn Viết Cảnh lập ra đầu tiên. Sau đó là nhà thuốc Cao Thái Hoành. Cao Thái Hoành là rể ông Thương Hữu Lân, một nghiệp chủ giàu nhứt hạng ở Mỹ Tho. Nguyên ông Thương Hữu Lân có cô trưởng nữ tuy không đẹp nhưng dễ coi, tánh hiền hậu, khiêm nhượng.

Ông Lân thấy có một cậu học sinh nhu mì, học giỏi nhưng con nhà nghèo. Ông bỏ tiền ra cho cậu ăn học để lấy bằng Tú tài toàn phần. Rồi ông Lân cho cậu xuất dương qua bên Pháp để đeo đuổi ngành Y khoa. Khi lết nghiệp, cậu về nước với một cô bạn học cùng trường với cậu đẹp hơn và học giỏi hơn cô trưởng nữ của ông Thương Hữu Lân.

Cậu xin hồi hôn. Ông Không Hữu Lân và cô trưởng nữ của ông không một lời oán trách cậu. Ông giúp cho chàng sinh viên Cao Thái Hoành qua Tây học dược khoa. Khi Cao Thái Hoành về nước, cưới cô trưởng nữ của ông Lân. Vợ chồng yêu thương chân thành, tìm được hạnh phúc.

Bà Cao Thái Hoành, mãi tới năm 1968, vẫn không chịu uốn tóc, giúp chồng coi sóc nhà thuốc ngoài việc nội trợ. Bà có cô em kế là Thương Thị Lắm tuy không đẹp nhưng hiền. Cô Lắm là vợ Đặng Văn Bé, chủ nhiệm kiêm chủ bút nhựt báo Thách Đố, và tuần báo “Phụ Nữ Dạ Đàm” rất ăn khách. Cô tuy học ít nhưng giúp chồng đắc lực ở vai trò quản trị và thủ quỹ.

Hai vợ chồng đều giàu, mua sắm nhiều đồ cổ ngoạn quý giá. Sau Cao Thái Hoành có dược sĩ Hà Hồng Lạc, từ bên Tây đem cô vợ đầm về Vĩnh Long, mở nhà thuốc gần chợ. Sau đó vì buôn bán không khá, vì cô vợ đầm phiền muộn, nên dược sĩ Hà Hồng Lạc cùng vợ về Pháp luôn.

Ngọc An (biên soạn)

Tin liên quan

Các tin khác