“Bắt bệnh” lỗi hợp đồng tín dụng mẫu: Nhiều nội dung chưa tuân thủ pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Chủ Nhật, 24/9/2017 07:22 GMT+7
(PLO) - Đánh giá sau 2 năm thực hiện tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký lĩnh vực tín dụng, tiêu dùng theo quy định tại Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg, liên quan đến nhóm dịch vụ phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng) (gọi chung là “tín dụng, ngân hàng”), Bộ Công Thương nhận định, hầu hết các hồ sơ đăng ký hợp đồng theo mẫu, đăng ký giao dịch chung (đặc biệt là đăng ký lần đầu) đang áp dụng với khách hàng hiện nay đều chứa đựng nhiều nội dung chưa tuân thủ pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng). 
“Bắt bệnh” lỗi hợp đồng tín dụng mẫu: Nhiều nội dung chưa tuân thủ pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Quyết định 35/2015/QĐ-TTg  ngày 20/8/2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (HĐTM, ĐKGDC). Theo Bộ Công Thương, đến nay, khoảng 60% tổ chức tín dụng đã nộp hồ sơ đăng ký tại Bộ Công Thương và khoảng 30% tổng số tổ chức tín dụng nộp hồ sơ đã hoàn thành nghĩa vụ đăng ký theo quy định. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 40% tổ chức tín dụng chưa thực hiện thủ tục đăng ký.

Chữ nhỏ, từ ngữ khó hiểu

Theo Bộ Công Thương, nếu như việc vi phạm về cỡ chữ không xảy ra nhiều ở các lĩnh vực khác thì các HĐTM, ĐKGDC của ngân hàng (NH) có số lượng vi phạm quy định về cỡ chữ rất lớn, đặc biệt là đối với hồ sơ mở tài khoản và mở thẻ ghi nợ nội địa. Thông thường các NH sử dụng cỡ chữ chỉ từ 8 -10, với lý giải là “để thiết kế nhỏ gọn, thuận tiện cho khách hàng trong việc cất giữ tài liệu, hoàn thiện thủ tục nhanh gọn vì không phải ký nhiều vào các trang và cũng giúp tiết kiệm một chi phí không nhỏ cho NH”. 

Tuy nhiên, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho khách hàng không đọc, không muốn đọc và thậm chí là không thể đọc những tài liệu do NH đưa ra. Vì vậy, quy định về cỡ chữ là một trong những tiêu chí bắt buộc đầu tiên mà đơn vị xử lý hồ sơ đã yêu cầu DN phải điều chỉnh. Cho đến nay, tất cả các hồ sơ được thông qua tại Bộ Công Thương đều đã đáp ứng cỡ chữ tối thiểu là 12, bảo đảm khả năng tiếp cận nội dung cho NTD.

Bên cạnh đó, trong HĐTM, ĐKGDC chứa những cụm từ chưa rõ ràng (nhất là những quy định liên quan tới quyền của NH, nghĩa vụ của NTD) như “theo quy định/yêu cầu của NH”; “các chi phí có liên quan”. Những dạng quy định này đều được cơ quan kiểm soát yêu cầu làm rõ bằng cách bổ sung quy định/ yêu cầu cụ thể vào HĐTM, ĐKGDC hoặc dẫn chiếu tới nguồn thông tin khách hàng có thể tìm hiểu được các quy định/ yêu cầu này (ví dụ như được công bố công khai tại trang web/ quầy giao dịch của NH).

Một số các quy định khác được ghi trong hợp đồng cũng không rõ ràng, dễ hiểu. Ví dụ: “Khách hàng có nghĩa vụ trả các khoản phí, chi phí được NH quy định trong từng thời kỳ phù hợp với quy định của pháp luật”. Quy định này không đảm bảo được khả năng tiếp cận thông tin của khách hàng trong việc tìm hiểu các loại phí, chi phí mà mình phải gánh chịu trước khi quyết định ký kết hợp đồng. Trong khi đó, đối với hợp đồng vay vốn, phí trả nợ trước hạn hay các khoản phạt vi phạm hợp đồng là những thông tin quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định vay vốn của NTD. 

Hoặc điều khoản “NH được quyền thay đổi lãi suất bằng một thông báo gửi tới khách hàng 30 ngày trước ngày áp dụng/NH được quyền thay đổi lãi suất theo quyết định của NH”  cũng đặt khách hàng vào trạng thái bị động, thậm chí là rủi ro khi không lường được thời gian hay biên độ điều chỉnh lãi suất. 

Những nội dung trên đều được Bộ Công Thương yêu cầu các NH, công ty tài chính làm rõ để khách hàng có thể nhận biết được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong quan hệ với NH.

Hợp đồng chứa đựng điều khoản không có hiệu lực

Dạng điều khoản phổ biến nhất trong hồ sơ của các NH và công ty tài chính là cho phép các đơn vị này chuyển giao hoặc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng cho bên thứ ba mà không cần NTD đồng ý. Ví dụ, NH có toàn quyền chuyển giao hoặc chuyển nhượng cho bên thứ ba thực hiện toàn bộ hoặc một phần các quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của NH theo quy định trong bản hợp đồng này.

Đối với dạng điều khoản không có hiệu lực này, Bộ Công Thương đã yêu cầu các NH cần giới hạn rõ trường hợp nào pháp luật chuyên ngành cho phép chuyển nhượng hợp đồng cho bên thứ ba, ví dụ trường hợp mua bán nợ hoặc xử lý nợ. Những trường hợp còn lại, Bộ Công Thương đều yêu cầu chỉnh sửa nội dung điều khoản theo hướng chỉ được chuyển nhượng khi NTD đồng ý, ví dụ: “NH không được chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho bên thứ ba mà không được NTD đồng ý, trừ trường hợp xử lý nợ hoặc mua bán nợ theo quy định của NH Nhà nước”.

Bên cạnh đó, trong hợp đồng mở thẻ ghi nợ nội địa có các cụm từ loại trừ trách nhiệm như “khách hàng chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các giao dịch phát sinh từ thẻ/ trong trường hợp thẻ bị giả mạo, lợi dụng…”, cơ quan chức năng cũng yêu cầu loại trừ trách nhiệm của khách hàng trong trường hợp do lỗi của NH hoặc khách hàng đã thực hiện đúng quy định của hợp đồng và pháp luật (ví dụ khách hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo, cung cấp thông tin cho NH trong trường hợp mất thẻ nhưng NH không thực hiện việc khóa thẻ trong thời gian quy định tại Bản Điều khoản mở thẻ)...

Đối với điều khoản cho phép NH đơn phương thay đổi điều kiện của HĐTM, điều kiện giao dịch chung, ví dụ như quy định về việc NH có quyền sửa đổi, bổ sung Bản Điều kiện, điều khoản sử dụng thẻ mà chỉ cần thông báo trên trang web, các NH cũng được yêu cầu phải quy định rõ các các hình thức thông báo trực tiếp tới khách hàng theo các địa chỉ mà khách hàng đăng ký, ví dụ sms, email và đăng tải công khai trên trang web, công khai thời gian cụ thể để khách hàng phản hồi ý kiến kể từ thời điểm khách hàng tiếp nhận được thông tin và quyền chấm dứt hợp đồng nếu khách hàng không đồng ý với những nội dung thay đổi và chỉ phải thanh toán tiền cho phần dịch vụ đã sử dụng (theo Điều 18 Nghị định 99/2011/NĐ-CP).

Vi phạm quyền bảo mật thông tin cho người tiêu dùng

Nhiều mẫu hợp đồng có chứa đựng nội dung vi phạm quy định về bảo mật thông tin cho NTD. Ví dụ, hợp đồng có điều khoản quy định khách hàng chấp thuận việc NH cung cấp hoặc công bố các thông tin liên quan đến khách hàng và hợp đồng này cho bất kỳ bên thứ ba nào hoặc trên bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào mà NH cho là cần thiết và NH không cần thêm bất kỳ văn bản thông báo nào khác cho khách hàng về việc này.

Những dạng điều khoản trao cho NH/công ty tài chính quyền được toàn quyền sử dụng, chuyển giao thông tin của khách hàng cho các đối tượng khác mà không cần khách hàng đồng ý đều bị cơ quan xử lý hồ sơ yêu cầu hủy bỏ, chỉnh sửa cho phù hợp với Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD, theo đó, phải được sửa thành “NH có nghĩa vụ bảo mật thông tin của NTD, không được phép chuyển giao thông tin của NTD cho bất kỳ bên thứ ba nào, trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc pháp luật có quy định khác”.

Đồng thời, những trường hợp chuyển giao thông tin khác cần ghi rõ mục đích và đối tượng tiếp nhận thông tin, đồng thời thiết kế theo hai phương án “đồng ý” hoặc “không đồng ý” để NTD tự lựa chọn.

Một vi phạm phổ biến khác là mẫu hợp đồng có điều khoản vi phạm nguyên tắc chung về giao kết hợp đồng (tiêu chí này được quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 99/2011/NĐ-CP), theo đó NH/các công ty tài chính ấn định những phương án có lợi cho mình trong HĐTM, ĐKGDC. Ví dụ, điều khoản ấn định tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là tòa án nơi NH có trụ sở hoặc do NH lựa chọn.

Mặc dù Bộ luật Tố tụng Dân sự có dành quyền thỏa thuận lựa chọn tòa án theo lãnh thổ cho các bên. Tuy nhiên, việc NH ấn định trong HĐTM, ĐKGDC tòa án nơi NH có trụ sở hoặc do NH lựa chọn chỉ nhằm đáp ứng quyền lợi của NH, không phân biệt trường hợp NH là bị đơn hay nguyên đơn. Trong trường hợp NTD là nguyên đơn, việc theo kiện NH tại nơi không phải nơi cư trú của NTD là một trở ngại không nhỏ cho NTD trong quá trình theo đuổi vụ kiện. Theo đó, Bộ Công Thương yêu cầu sửa đổi theo hướng xác định tòa án có thẩm quyền theo quy định pháp luật chứ không ấn định theo ý chí của NH.

Với số lượng hơn 1500 hồ sơ lĩnh vực tín dụng, tiêu dùng tác động lớn đến số đông NTD được xử lý chỉ trong gần 2 năm, có thể thấy những vấn đề rất cụ thể được Bộ Công Thương phát hiện và yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh loại bỏ trong thời gian qua như được nêu trên đã có đóng góp thiết thực trong việc lành mạnh hóa mối quan hệ giữa đơn vị kinh doanh và NTD, qua đó giảm thiểu tranh chấp phát sinh và hạn chế thiệt hại cho toàn xã hội. 

Bách Nguyễn

Tin liên quan

Các tin khác