Chuyện đời những góa phụ ở Bến Lỡ

Chủ Nhật, 5/8/2018 07:06 GMT+7
(PLO) - Năm 2004, chuyến ra khơi định mệnh trên con tàu QNa 1431 đã mãi chôn vùi thân xác của hơn 20 thuyền viên cùng ở thôn Bình Trung thuộc xã đảo Tam Hải (huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam). Gần 15 năm trôi qua, câu chuyện vẫn là nỗi ám ảnh với bà con nơi đây. Còn những người đàn bà có chồng đi biển trên con tàu QNa 1431, dẫu biết rằng vô vọng, vẫn ngày ngày lặng lẽ trông theo từng con sóng va vào bến nước, ngóng trông…
Chuyện đời những góa phụ ở Bến Lỡ
Giếng cổ, nguồn sống của một vài chị em không thể ra bến sông

1. Mùa nào, xã đảo Tam Hải cũng sóng nước mênh mông. Từ ngày 20 thuyền viên tàu QNA 1431 bị cơn bão dữ nhấn chìm biệt vô âm tín, bến cát thôn Bình Trung dần dần trở thành một cái tên gọi mới: Bến Lỡ. Người Tam Hải lý giải, nơi đây hàng ngày gió cuốn cát trôi, nhiều người không chịu nổi cuộc sống xóa lở bờ bãi, đã dần dần bỏ bến ra đi. Riêng hàng chục góa phụ có chồng nằm lại giữa biển lạnh vẫn bám bến đợi chờ, dẫu biết rằng vô vọng. “Lỡ” vì thế còn mang nghĩa là dang dở bao mảnh đời!

Đứng bên này sông nhìn sang, bóng dáng của những người phụ nữ Bến Lỡ càng hắt hiu, chới với giữa muôn trùng sóng nước đang ngày đêm lăn vào cồn bãi. Nếu có ai khuyên “hãy đi bước nữa vì tương lai con cháu”, họ lắc đầu nguầy nguậy, nhất quyết không thể bội lời nguyện thề 15 năm về trước. 

Người dân Bến Lỡ kể lại, một buổi chiều năm 2004, biển trở mình gào thét. Nghe tin bão lớn hoành hành ngoài khơi, nơi tàu QNA 1431 đang cố vật lộn, bao gia đình như ngồi trên đống lửa. Và rồi, con tàu mất liên lạc hoàn toàn với đất liền. Người dân xóm đảo co rúm lại ngóng chờ: 1 đêm… 2 đêm... và vô vọng đến bây giờ.

Chị Nguyễn Thị Minh (45 tuổi), vợ chủ tàu QNA 1431 cho biết, chị có chồng và con trai đều mất tích sau trận bão oan nghiệt năm 2004. Chuỗi ngày còn lại, chị phải sống trong tận cùng nỗi đớn đau không gì có thể nguôi ngoai. Cũng không ai ngạc nhiên khi thời điểm đó, chị Minh trở thành người đàn bà vô hồn nói cười điên dại.

Phụ nữ ở xã đảo bám sông Trường Giang lượm ốc mưu sinh

Trước sự ra đi của hai người đàn ông mình yêu thương nhất, những tưởng sẽ không trụ nổi, chị 5 lần 7 lượt tìm đến cái chết. Tuy nhiên, trong số ít lần tỉnh táo, chị Minh nghĩ phải sống để còn đợi người chồng và đứa con một ngày lại trở về. Nhờ thế, chị vực dậy tinh thần. 

Góa phụ chua chát: “Đàn bà dân đảo chúng tôi ai cũng thấm thía cái câu “Lấy chồng đi biển hồn treo cột buồm”. Biết răng bây chừ, đều do duyên và nghiệp cả. Nhưng có ai ngờ, bao tang thương mất mát cùng lúc phủ lên cái Bến Lỡ, khiến mấy chị em thành góa phụ. Có những đêm, mấy chị em như người mộng du, lang thang ra biển giữa đêm khuya hú gọi tên chồng, con. Rồi cũng mấy chị em, tự tỉnh lại rồi dắt díu nhau về”.

Chị Minh kể tiếp, bản thân từ một gia đình có kinh tế vững vàng, chủ tàu tiền tỷ, phút chốc thành tay trắng. Nhưng không thể mãi ủ dột, chị gom góp ít vốn liếng còn sót lại đầu tư nuôi nghêu trên vùng nước lợ, nơi vị trí tàu QNA 1431 neo đậu trước khi ra khơi. Thế nhưng, công sức cũng đổ ra sông biển vì thất bại. Kiệt quệ song người phụ nữ này vẫn không làm sao rời bỏ Bến Lỡ. Chị một mình một bóng, bám theo từng con nước ròng cửa sông, mò cua bắt ốc mưu sinh. 

2. Mỗi một bóng hình sắt son chờ chồng trên Bến Lỡ có một hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều giống ở nỗi buồn hiu hắt. Chị Nguyễn Thị Cúc cũng vậy. Ngày anh Lê Văn Sang, chồng chị theo tàu QNA 1431 ra khơi mãi mãi không về, để lại người phụ nữ khi ấy mới 24 tuổi cùng 4 đứa con thơ nheo nhóc. 15 năm trời, không đêm nào chị không rưng rức khóc vì nhớ thương và nghĩ phận mình hẩm hiu. 

Phụ nữ ở xã đảo bám sông Trường Giang lượm ốc mưu sinh

Chị Cúc bộc bạch rằng thường hay mơ thấy chồng trôi dập dềnh trên biển nên lòng cứ bồn chồn không sao yên được. Nhiều lần, chị định rước thầy cúng về tìm cho anh Sang, nhưng bà con hàng xóm khuyên can, chị lại thôi. Cuối cùng nấm mộ gió nơi bãi cát trước làng được dựng lên, chiều chiều chị lại mang hương khói ra thắp, tưởng như có anh nằm phía dưới kia rồi, tâm mới yên lại.

Trên Bến Lỡ, căn nhà chị Cúc hướng mắt ra bến sông. Dưới ánh nắng chiều, bóng chị liêu xiêu đổ dài soi xuống mặt nước. Người chị gầy rộc, đôi mắt thẳm sâu lúc nào cũng mọng nước, cứ chực chờ ai nhắc đến chồng để trào ra.

Chị kể, ngày chồng vĩnh viễn ra đi, chị không còn sợ bóng đêm và sóng gió nữa. Vì thế, đêm đêm nhìn ra bến sông, mọi người thường thấy bóng người đàn bà cô độc với cây đèn pin buộc trên trán, lom khom soi bắt cá, nhặt ốc sò. Thu nhập không đủ sống, ban ngày chị làm thuê, tằn tiện nuôi 4 đứa con ăn học.

3. Chị Nguyễn Thị Linh (50 tuổi) lại khác. Ngày nhận tin chồng mất tích, dù vẫn bám đảo nhưng lại rất sợ nhìn thấy biển khơi. Vì thế chị chọn cho mình nghề chở nước thuê loanh quanh trong làng kiếm sống. 

Trên đảo có 2 giếng nước ngọt tự bao đời, ngày ngày bà con lại thấy chị Linh gò lưng trên chiếc xe đạp cũ, chở theo 2 can nhựa đổi nước cho người dân: “Chứ biết răng chừ. Hễ ra biển tôi lại không thể nguôi ngoai nỗi đau, đành chọn công việc này. Thay vì ôm cột nhà khóc mãi, ngày khỏe tui đạp được 4- 5 chuyến, đổi 40 lít nước ngọt kiếm được 20.000 đồng, sống qua ngày”, chị nói.

Chứng kiến hết thảy câu chuyện đời của những phụ nữ góa phụ nơi Bến Lỡ, ông Hồ Quốc Thanh, Trưởng thôn Bình Trung phải thốt lên một điều, rằng nếu ở lại Bến Lỡ vào ban đêm mới thấu hết nỗi lòng những người đàn bà trên đảo. Giữa bốn bề mênh mông sóng nước, tiếng sóng đều đều táp vào bãi cát, dưới ánh điện mờ chỉ toàn trẻ con và phụ nữ ra vào ngóng chồng, ngóng cha trong tuyệt vọng... thật xót xa. Dẫu vậy, những phụ nữ vừa làm cha, vừa làm mẹ ở đây vẫn mạnh mẽ vươn lên sống tốt…. 

Vũ Vân Anh

Tin liên quan

Các tin khác