Nỗi buồn nơi trái tim của vương quốc Chămpa

Thứ Hai, 27/4/2015 06:43 GMT+7
(PLO) - Đồng Dương xưa vốn là kinh đô cổ, là “trái tim” của vương quốc Chămpa với quy mô bề thế của một Trung tâm Thiền viện Phật giáo bậc nhất của khu vực Đông Nam Á. Nơi đây, ngàn năm trước từng là vùng đất sinh tụ của hàng ngàn người Chăm tộc Trà nhưng  nay có nguy cơ bị mai một.

Nỗi buồn nơi trái tim của vương quốc Chămpa
Dấu tích nhà thờ tộc Trà.
Đọc ngay
Chủ nhân vùng đất Thánh đô
Ung, Ma, Trà, Chế là 4 trong số những tộc họ người Chăm sống phân bố khắp đồng bằng duyên hải miền Trung đến tận cùng đất Nam bộ ngày nay. 
Tại vùng đất Đồng Dương, xứ Aravati (Quảng Nam), người Chăm mang họ Trà là chủ yếu. Tộc Trà còn ở lại Đồng Dương có lẽ để bảo vệ các công trình điêu khắc kiến trúc còn lại của tổ tiên như Tháp Sáng, tượng Bồ Tát, tượng La Hán, tượng Thiên Thần Hộ Pháp, tượng thần Siva, tượng Phật Thích Ca, trong đó Tượng Bồ Tát Ta Ra được khai quật năm 1978 là bức tượng đẹp nhất, là đỉnh cao của nền nghệ thuật Đông Nam Á…
Ngày nay, con cháu tộc Trà với những tập tục đời sống đặc trưng là dấu ấn văn hóa sống động sót lại của người Chăm từng kiến tạo trên mảnh đất Quảng Nam. 
Theo gia phả tộc Trà, thuỷ tổ của tộc Trà là Trà Hoà Bố Để (có tài liệu viết là Trà Hoa Bồ Đề, là hậu duệ Vua Chế Mân, con rể Vua Chế A Nan), đức vua đời thứ 9 của vương triều Vijaya, đóng đô ở Đồ Bàn (Bình Định), được xem là vị tiền hiền đã khai sáng ra tộc Trà.
Tộc Trà là cư dân gốc Chiêm Thành (người Quảng quen gọi là người Hời). Qua thời gian, do chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, dịch hoạ, không gian địa lý và hoàn cảnh lịch sử nên các thành viên trong dòng tộc Trà ngày càng sống xa nhau, không có điều kiện, cơ hội tìm về với cội nguồn. Nhiều phái, chi, nhánh của tộc Trà được thành lập ở mọi miền của Tổ quốc, và vươn xa ra ngoài biên giới, trong đó còn duy nhất một nhánh tộc Trà ở lại làng Đồng Dương – vùng đất gốc của dòng tộc.
Hội thảo "Bảo tồn và phát huy di sản Đồng Dương". 
Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, tộc Trà Đồng Dương được hình thành cùng với sự phát triển hưng thịnh của Phật giáo ở khu đền tháp Đồng Dương (thế kỷ IX – XV).
Tộc Trà ngày càng mai một?
Kể từ sự kiện Vua Lê Thánh Tông tiến hành cuộc bình Chiêm thắng lợi (năm 1470) trở về sau, số lượng tộc Trà có phần tụt giảm, phần thì chạy trốn, phần thì “tha phương cầu thực”. Hiện nay, tại làng Đồng Dương, số lượng người dân mang họ Trà rất khiêm tốn, khoảng chưa đến 300 người so với hàng ngàn người đầu thế kỷ XX.
Ông Trà Tấn Tôn cho biết, theo những ghi chép trong gia phả tộc Trà lưu lại: “Thời trước, không chỉ riêng làng Đồng Dương mà còn cả vùng lân cận đều mang họ Trà. Số lượng rất đông, không đếm hết.
Khi ấy, con cháu họ Trà còn lưu giữ được những phong tục tập quán của người Chăm như múa apsara, thờ Phật, thờ thần thánh, cúng bái nơi tháp Thiêng (Phật viện), làm lúa khô, viết chữ Phạn, nói tiếng Chăm,… Truyền thống ấy đến đầu thế kỷ XX vẫn còn được bảo lưu”.
Được biết, tộc Trà Đồng Dương hiện có khoảng 110 hộ (so với cả làng là 200 hộ). Trước đây, tộc có 4 nhánh, nay chỉ còn 3 (vì nhánh I không có người nối dõi nên đã nhập vào nhánh II). Nhánh I có 3 hộ do ông Trà Cung làm trưởng tộc (đã mất). Nhánh II có 45 hộ do ông Trà Tấn Tôn làm trưởng tộc. Nhánh III có 50 hộ do ông Trà Tấn Sắn (51 tuổi) làm trưởng tộc. Nhánh IV có 10 hộ do ông Trà Tấn Tư (61 tuổi) làm trưởng tộc. Và số còn lại sống rải rác tại các xã trong huyện, trong tỉnh và ngoài tỉnh chưa thống kê đầy đủ.
 Hậu duệ của người Chăm
“Vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX, con cháu tộc Trà rất đông, chiếm số lượng nhiều nhất nước. Tộc có nhà thờ tộc, có phả hệ, có nhiều sắc phong, nhiều hiện vật Chăm cổ, nhưng không hiểu lý do gì lại bị thiêu huỷ sau một đêm. Từ đó đến nay, các vị cao niên trong làng đã qua đời, nhiều người không hiểu về gia tộc Trà để sưu tầm, nghiên cứu nên có sự nhận thức mơ hồ về dòng máu mà mình đang mang trong người.
Và cũng từ khi dòng di cư từ phương bắc vào, những người tộc Trà đã sống hòa đồng cùng với người Việt, những phong tục, tập quán dần dần bị mai một theo thời gian, ngay cả trong thẻ căn cước (chứng minh nhân dân) vẫn thừa nhận là người Việt (Kinh). 
Đến nay, vốn quý nhất mà cư dân nơi đây còn giữ được là ý thức tự giác của tộc người, là dòng máu tộc Trà cùng với những bức tượng Chăm kiêu sa và tháp Sáng tráng lệ một thuở huy hoàng” – ông Trà Tấn Huệ (84 tuổi, tổ 6, thôn Đồng Dương) bộc bạch.
Ông Trà Tấn Tôn cho biết, nhà thờ Tiền hiền tộc Trà đã trải qua nhiều lần tu sửa, thay đổi vị trí nên mất tính đất địa linh thiêng… May nhờ tộc Trà vẫn còn tổ tiên, tháp Sáng, nhà thờ tộc nên hàng năm con cháu ở khắp mọi miền của Tổ quốc còn hướng về cội nguồn thông qua các cuộc hành hương về thăm tháp Sáng và nhà thờ Tiền hiền tộc Trà.
10 năm trở lại đây, dưới sự trợ giúp của tộc Trà Việt Nam, ông Trà Tấn Lợi (77 tuổi) và ông Trà Quang Thảng (76 tuổi) cùng trú ở xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, Quảng Nam đã bỏ nhiều công sưu tầm, nghiên cứu về tộc Trà để cho xây dựng một nhà thờ tộc Trà ở Việt Nam, đặt ở địa phương. Cứ 3 năm một lần, vào ngày 23/03 (âm lịch), ngày giỗ tổ tộc Trà Việt Nam lại được cử hành long trọng tại nhà thờ tộc Trà ở Điện Thọ.
Chia tay bà con tộc Trà làng Đồng Dương, chúng tôi mãi ám ảnh bởi câu nói của vị Trưởng tộc Trà: “Còn tháp còn người Trà, mất tháp là mất tất cả…” mà xót xa cho truyền thống một dòng tộc ngàn năm trên đất Chăm. 
Rồi đây, những giá trị văn hoá từ hữu hình đến vô hình sẽ dần bị thời gian và con người can thiệp. Hậu duệ của người Chăm cảm thấy nao lòng khi từng ngày tháp Sáng cố “ngoi mình” để “chống chọi” với “phong ba bão táp” cuộc đời, khu Phật viện Đồng Dương đi vào quên lãng, người Chăm họ Trà dần thưa thớt...
GS.TS.KTS. Hoàng Đạo Kính khẳng định: “Đồng Dương trước tiên cần phải được nhìn nhận như là một di tích lịch sử, là chứng nhân lịch sử tiêu biểu và đặc sắc nhất, có một không hai, chứa đựng những thông tin được thế xác hóa, bởi vậy đích thực và hễ ta giải mã được, sẽ là nguồn tri thức về một nền văn minh trôi tuột vào dĩ vãng"./.

Tin liên quan

Các tin khác