Người lính 'mất tích' ngày trở về không dám gọi tên mẹ

Thứ Ba, 5/6/2018 06:58 GMT+7
(PLO) - Trở lại mái nhà xưa, điều khiến anh bộ đội bất ngờ không phải là vẻ già nua của mẹ. Đất nước bao nhiêu năm chiến tranh. Quê hương đã chịu bao đạn bom. Bao điêu linh đã trĩu nặng vai mẹ, nên mẹ già hơn xưa không lạ.
Người lính 'mất tích' ngày trở về không dám gọi tên mẹ
10 tuổi ông Sơn (ảnh nhỏ) đã là liên lạc, 14 tuổi du kích xã, 17 tuổi tham gia lực lượng biệt động Quân Giải phóng.

Điều khiến anh bộ đội bất ngờ là bài vị của mình được đặt trang trọng trên bàn thờ. “Mẹ tui lúc ấy già rồi, sợ bà quá bất ngờ, nên tui vào nhà liền vờ lên tiếng: “Đơn vị con hành quân ngang qua làng. Con ghé vào xin mẹ miếng nước”. Người mẹ gật đầu, vừa quay lưng đi được đôi bước thì khựng người lại. Dáng người thì hao hao, nhưng cái giọng nói ấy dù bao năm không nghe, lại thêm linh cảm người mẹ, lẽ nào bà lại nhầm lẫn. Bà lão lụi cụi quay lại, ôm chầm con trai nức nở khóc. Hóa ra sau khi con trai bị giặc đưa khỏi nhà lao Thừa Phủ, bà tìm cách dò la tin tức nhưng không manh mối gì. Cứ nghĩ con trai đã bị giặc thủ tiêu, bà lập bài vị thờ, bao năm nhang khói. 

“Thấy cha bị giặc đánh đập, tui quyết tâm đi theo bộ đội, chỉ mong đánh đuổi hết quân giặc trên quê mình…”. Suốt một đời đi theo cách mạng, cựu chiến binh Bùi Ngọc Sơn (SN 1949, ngụ thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế) nhớ từng kỷ niệm ngay khi ông chỉ mới hơn 10 tuổi. 

10 tuổi đã theo cách mạng

Buổi chiều hôm ấy, đi chăn trâu trên rẫy về, cậu bé Sơn hoảng hốt khi thấy giặc đi càn ngang qua làng, đang hung hăng đánh đập cha. Chúng vừa đạp vừa đá cha rồi hất hàm tra hỏi: “Có nhìn thấy Việt Cộng không?”, “Có cất giấu súng không?”. Người cha quỳ rạp trên đất, mặt nhăn nhúm vì đau, lắc đầu quầy quậy. Cậu bé Sơn chạy ùa vào ôm lấy tấm lưng ốm yếu của cha. Thân thể nhỏ bé của đứa trẻ chẳng thể che chắn cho cha già. Trong cơn đau đớn, cậu nghĩ: “Mình sẽ theo bộ đội đánh đuổi hết bọn chúng ra khỏi làng”. Vậy là dấn thân.

10 tuổi, cậu bé Sơn làm liên lạc ở địa phương. Đến năm 14 tuổi thì được “thăng cấp”, chính thức trở thành một du kích của xã. “Lần đầu tiên được ôm trong tay khẩu súng, hãnh diện lắm, đến nỗi đi ngủ cũng không muốn rời ra”, ông bồi hồi nhớ lại khoảnh khắc đã hơn nửa thế kỷ. 

14 tuổi, nhưng năm đó ông còn nhỏ xíu, đen nhẻm. Khẩu súng trường K44 lúc ấy cao gần đến đỉnh đầu. Lúc bình thường còn mang nổi súng. Khi chiến đấu mới thấy hết sự chênh lệch giữa súng với người, nhất là lúc địch phản kích, phải rút lui. Lần đó, chàng du kích trẻ măng ôm khẩu súng trên vai, chẳng cách gì chạy nổi, đành quăng luôn khẩu súng vào bụi rồi thoát thân. Sau trận càn, địch rút khỏi làng, đồng đội hỏi “súng đâu?”. “Chiến sĩ nhí” đỏ mặt, dắt đồng đội đi tìm súng. Thấy ông ôm súng như “ếch tha nhái”, cấp trên quyết định thu lại khẩu súng, rồi phát cho ba quả lựu đạn. Kể lại chuyện xưa, người lính già vẫn không giấu nổi nụ cười.

Năm 17 tuổi, Bùi Ngọc Sơn tham gia vào Đội Biệt động quận Nam Hòa (bây giờ là thị xã Hương Thủy). Trong chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, đơn vị biệt động của ông chia thành nhiều cánh, phối hợp với đơn vị quân chủ lực tiến đánh thành phố. Cánh của ông đánh vào tòa tỉnh trưởng, mở cửa nhà lao Thừa Phủ.

Trong chiến dịch Xuân Mậu Thân năm ấy, ông nhớ nhất là trận đánh đồn Long Thọ. Quân ta vây đánh đồn suốt 28 ngày đêm. Lúc đó, các vùng lân cận như Nguyệt Biều, Văn Thánh… đều do quân ta chiếm đóng, cắt đứt đường vận chuyển lương thực của địch. Đêm đêm, địch tràn về các làng đánh chiếm, quân ta lại đánh bật lên. Trong những ngày đêm chiến đấu ác liệt đó, ông đã vinh dự được kết nạp Đảng ngay trên chiến hào, khi đang cùng đồng đội chiến đấu ác liệt với quân thù. 

Ông Sơn bị thương, lọt vào tay giặc sau một trận đánh với lực lượng kỵ binh bay của Mỹ.

Trận chiến không cân sức

Sau chiến dịch Mậu Thân, Quân Giải phóng lại rút lên rừng. Ông Sơn phụ trách một tiểu đội biệt động, ngày ẩn mình nơi núi rừng giáp ranh với chiến khu Dương Hòa, đêm vượt đèo, vượt suối vào hoạt động trong lòng địch. Thời gian này, quân ta đang ráo riết chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân lần hai. 

Một đêm giữa mùa hè năm 1968, tổ biệt động của ông gồm ba người, như mọi đêm, lại băng rừng, cắt suối, lội sông về cơ sở hoạt động. Do bị phục kích nên cả ba chưa kịp đến cơ sở thì trời đã sáng tỏ. Lúc đó họ chỉ mới ngang qua làng Kim Sơn. Trước đây ở làng này, tổ biệt động từng xây dựng hầm trú địch. Nhưng sau đó bị lộ phải bỏ hầm. Lần này đến làng, không thể ẩn nấp ở hầm cũ, cả ba đành phải tìm một hố bom cũ đã bị cỏ tranh phủ kín để ẩn mình.

Hôm đó, tổ biệt động lại gặp phải lực lượng kỵ binh bay của Mỹ đi càn. Nhìn lực lượng địch càng ngày càng rút ngắn khoảng cách, ông cùng đồng đội đưa mắt nhìn nhau, cả ba nắm chặt tay nhau. Cái nắm tay ấy, biết đâu sẽ là cái nắm tay cuối cùng của họ. “Lúc đó, tui nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, ngẩng đầu nhìn trời, nhìn đất lần cuối. Tui nghĩ, nếu mình không nổ súng, chẳng may bị địch phát hiện rồi bắn chết thì uổng quá. Mình nổ súng tấn công trước, nếu hy sinh thì ít ra mình cũng giết được một, hai tên, vậy là hòa. Xem như chết đi cũng không uổng phí”, ông Sơn nhớ lại. 

Tổ biệt động chủ động nổ súng, sau đó thoát khỏi chỗ ẩn nấp, chạy lên đồi. Lực lượng quá chênh lệch, số lượng đối phương trên đồi càng đông hơn. Thế trận hỗn loạn, ông và đồng đội lạc mất nhau. Ông bị trúng đạn, máu liên tục chảy không ngừng. Người chiến sĩ trẻ tuổi lần tìm một khe đất, ẩn nấp, rồi gục xuống. Máu vẫn tiếp tục chảy, ông chìm hôn mê lúc nào không hay. Khi tỉnh lại, người chiến sĩ trẻ đã nằm trong tay giặc.

Ngày trở về, sợ mẹ sốc tâm lý, ông không dám xưng mình là con trai mẹ.

Ngày trở về cảm động

Lúc bị giặc bắt, chàng thanh niên ấy chỉ mới bước qua tuổi 19 tươi đẹp. Nghĩ đã rơi vào tay giặc chỉ có đường chết. Khai cũng chết, không khai cũng chết, nên dù địch tra tấn kiểu gì, ông đều kiên quyết thực hiện ba không: “Không nghe”, “không thấy”, “không biết”. Nhất định không khai một lời. Sau hơn nửa tháng bị giam cầm tại lao Thừa Phủ (Huế), ông bị đưa vào trại giam Đà Nẵng ở một thời gian, sau đó l chuyến lên máy bay, đưa ra trại giam Phú Quốc, nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”. 

Tại nhà lao Phú Quốc, ông cùng đồng đội trải qua đủ mọi loại hình tra tấn man rợ nhất của quân thù. Đau đớn về thể xác lẫn tinh thần, có lúc tưởng chừng như không thể gượng dậy nổi. Nhưng với ý chí sắt đá, lòng kiên cường bất khuất của người chiến sĩ cách mạng, ông cùng đồng đội ngày đêm tìm phương cách đấu tranh với quân thù ngay trong trại giam.

Năm 1973, ông Sơn cũng nhiều chiến sĩ khác được trao trả tù binh. Sau một thời gian dài điều trị sức khỏe tại Quảng Bình, cuối năm 1974, ông trở lại chiến trường Quảng Trị, nhận nhiệm vụ mới, chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công mùa Xuân 1975.

Ở tuổi 69, người lính năm xưa đôi mắt vẫn luôn lấp lánh tinh anh khi nhắc đến những tháng ngày cũ. Có lẽ lần trở về nhà sau nhiều năm biền biệt đã để lại trong ông nhiều xúc động nhất, mà đến giờ nghĩ lại vẫn vẹn nguyên cảm giác bồi hồi. 

Khi đó đầu năm 1975, Huế đã được giải phóng, đơn vị giải quyết phép cho ông được về thăm nhà.  Trở lại mái nhà xưa, điều khiến anh bộ đội bất ngờ không phải là vẻ già nua của mẹ. Đất nước bao nhiêu năm chiến tranh. Quê hương đã chịu bao đạn bom. Bao điêu linh đã trĩu nặng vai mẹ, nên mẹ già hơn nhiều không lạ. Điều khiến anh bộ đội bất ngờ là bài vị của mình được đặt trang trọng trên bàn thờ. 

“Mẹ tui lúc ấy già rồi, sợ bà quá bất ngờ nên tui vào nhà liền vờ lên tiếng: “Đơn vị con hành quân ngang qua làng. Con ghé vào xin mẹ miếng nước”. Người mẹ gật đầu, vừa quay lưng đi được đôi bước thì khựng người lại. Dáng người thì hao hao, nhưng cái giọng nói ấy dù bao năm không nghe, lại thêm linh cảm người mẹ, lẽ nào bà lại nhầm lẫn. Bà lão lụi cụi quay lại, ôm chầm con trai nức nở khóc. Hóa ra sau khi con trai bị giặc đưa khỏi nhà lao Thừa Phủ, bà tìm cách dò la tin tức nhưng không manh mối gì. Cứ nghĩ con trai đã bị giặc thủ tiêu, bà lập bài vị thờ, bao năm nhang khói. Cứ nghĩ con trai đã mất, không ngờ còn có ngày còn gặp lại.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông Sơn được điều động về làm Đại đội trưởng Đại đội tháo gỡ bom mìn ở cây số 17 (thuộc thị xã Hương Trà). Sau đó ông về làm Xã đội trưởng ở địa phương, rồi làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh của xã, bất chấp cơ thể vẫn còn nhiều mảnh đạn nằm lại. Chiến tranh đã qua nhưng quá khứ hào hùng của một thời bom đạn, những người lính như ông mãi mãi chẳng thể nào quên. 

Tin liên quan

Các tin khác